❄️ Phát Triển Chương Trình
Chương trình phát triển vùng và địa phương - Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright. Chương trình đào tạo dành cho cán bộ công chức tỉnh Hà Giang do Trường FSPPM thực hiện năm 2017 - 2018 là một chuỗi gồm 3 chương trình đào tạo liên tiếp được thực hiện song song
1. Giới thiệu chung: Chương trình Đối tác Phát triển của JICA (chương trình hợp tác kỹ thuật cấp cơ sở) là chương trình thực hiện với mục đích hỗ trợ các tổ chức phi chính phủ (NGO), tổ chức xã hội dân sự (CSO), trường đại học, chính quyền địa phương, các tổ chức pháp nhân công… của Nhật Bản (hay
Chương trình Tài chính Hỗ trợ Phát triển Hạ tầng Bền vững (DSIF) cung cấp các khoản vay phi lãi suất cho các dự án cơ sở hạ tầng tại Việt Nam. Khoản vay thông thường có kỳ hạn 10 năm và được giải ngân bằng Đô la Mỹ hoặc Euro.
Bộ Xây dựng vừa có ý kiến về Chương trình phát triển đô thị tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030. Chương trình phát triển đô thị tỉnh Hưng Yên xác định tỷ lệ đô thị hóa giai đoạn đến 2025 là 48-50%; giai đoạn đến năm 2030 là 58-60%, hiện
PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO SƯ PHẠM KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ THÔNG TIN THEO MÔ HÌNH ADDIE Nguyễn Tiến Long*, Trần Thị Hạnh** ABSTRACT ADDIE is a model for planning training programs that eliminate waste in the process of implementing training goals. In this paper, the author studies the application of ADDIE model
Theo đó, chương trình OCOP là chương trình trọng tâm phát triển kinh tế khu vực nông thôn theo hướng phát huy nội lực và gia tăng giá trị; là giải pháp và nhiệm vụ quan trọng trong thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025; xây
Ngày 10/10, UBND tỉnh tổ chức hội nghị nghe báo cáo dự thảo Chương trình phát triển nhà ở tỉnh Ninh Bình đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Đồng chí Nguyễn Cao Sơn, TUV, Phó Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì hội nghị. Cùng dự có lãnh đạo các Sở, ban, ngành, Chủ tịch UBND các huyện, thành phố.
1 Quyết định 747/QĐ-UBND năm 2021 phê duyệt Đề án Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự, đảm bảo môi trường an toàn, văn minh phục vụ phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2021-2026; 2 Kế hoạch 9004/KH-UBND năm 2021 thực hiện Chương trình phối hợp xây dựng đời sống
phát triển chương trình giáo dục (xây dựng, thực thi và đánh giá chương trình) - Về kỹ năng: Vận dụng kiến thức cốt lõi về khoa học phát triển chương trình giáo dục có thể tham gia hoặc tổ chức xây dựng chương trình
MX9hBed. ArticlePDF AvailableAbstractOutcome Based Education OBE là một trong những phương pháp được áp dụng để xây dựng và phát triển chương trình đào tạo một cách hiệu quả. Bài viết trình bày 1 tóm tắt các nguyên lý cơ bản và quy trình phát triển chương trình đào tạo theo định hướng OBE, tập trung vào năng lực của người học hay còn gọi là chuẩn đầu ra, dựa trên yêu cầu của bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng cấp chương trình đào tạo của Mạng lưới các trường đại học Đông Nam Á AUN-QA ASEAN University Network-Quality Assurance và quy trình thiết kế và phát triển chương trình đào tạo theo thông tư 07/2015/TT-BGDĐT; 2 trình bày thực trạng áp dụng cách tiếp cận OBE trong quá trình xây dựng và điều chỉnh chương trình tại trường đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh Trường ĐHNL; 3 tổng kết các vấn đề tồn tại của các chương trình đào tạo đã và đang tham gia đánh giá ngoài bởi AUN-QA; từ đó 4 đưa ra các giải pháp để đảm bảo chất lượng cấp chương trình đào tạo. Discover the world's research25+ million members160+ million publication billion citationsJoin for freeContent may be subject to copyright. Tạp Chí Khoa Học Giáo Dục Kỹ Thuật Số 63 04/2021 Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật TP. Hồ Chí Minh PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG ĐÁP ỨNG CHUẨN ĐẦU RA NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH OUTCOME-BASED EDUCATION FOR DEVELOPING STUDY PROGRAMME IN HIGHER EDUCATION A CASE STUDY AT NONG LAM UNIVERSITY - HO CHI MINH CITY Mai Anh Thơ 1, Võ Ngàn Thơ 2, Bùi Văn Hồng 1 1Trường Đại học Sư phạm Kỹ Thuật Việt Nam 2Trường Đại học Nông Lâm Việt Nam Ngày toà soạn nhận bài 20/10/2020, ngày phản biện đánh giá 11/11/2020, ngày chấp nhận đăng 18/12/2020 TÓM TẮT Outcome Based Education OBE là một trong những phương pháp được áp dụng để xây dựng và phát triển chương trình đào tạo một cách hiệu quả. Bài viết trình bày 1 tóm tắt các nguyên lý cơ bản và quy trình phát triển chương trình đào tạo theo định hướng OBE, tập trung vào năng lực của người học hay còn gọi là chuẩn đầu ra, dựa trên yêu cầu của bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng cấp chương trình đào tạo của Mạng lưới các trường đại học Đông Nam Á AUN-QA ASEAN University Network-Quality Assurance và quy trình thiết kế và phát triển chương trình đào tạo theo thông tư 07/2015/TT-BGDĐT; 2 trình bày thực trạng áp dụng cách tiếp cận OBE trong quá trình xây dựng và điều chỉnh chương trình tại trường đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh Trường ĐHNL; 3 tổng kết các vấn đề tồn tại của các chương trình đào tạo đã và đang tham gia đánh giá ngoài bởi AUN-QA; từ đó 4 đưa ra các giải pháp để đảm bảo chất lượng cấp chương trình đào tạo. Từ khóa OBE; phát triển chương trình đào tạo; chuẩn đầu ra; đảm bảo chất lượng cấp chương trình đào tạo; Trường ĐHNL. ABSTRACT Outcome-Based Education OBE is one of the effective methods that are used for developing study programme. This approach has four key concepts and principles which are focus on competencies or learning outcomes, backward curriculum design, constructive alignment and creates learning opportunities for learners. While applying this approach to the study programme development process, Nong Lam University – Ho Chi Minh City has a chance to review and strengthen its internal quality framework with feasible solutions for strategic planning. This paper aims to share the experience which is gained during the study programme development process at Nong Lam University as a case study of applying OBE. Keywords OBE; study programme development; learning outcomes; quality assurance at the programme level; Nong Lam University. 1. ĐẶT VẤN ĐỀ Phát triển chương trình đào tạo CTĐT là quá trình tổng thể vòng đời, bao gồm thiết kế, thực hiện và đánh giá CTĐT, và là quá trình liên tục để hoàn thiện CTĐT. Đây là quá trình khá phức tạp và sự phức tạp càng nhiều nếu không có một mô hình [1] với những triết lý hay nguyên lý rõ ràng, cùng với những phương pháp hay cách thức cụ thể cho việc phát triển CTĐT. Phát triển CTĐT đại học có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng ĐBCL Doi Tạp Chí Khoa Học Giáo Dục Kỹ Thuật Số 63 04/2021 Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật TP. Hồ Chí Minh đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế - xã hội [2]. Để làm được điều này, có rất nhiều mô hình phát triển CTĐT đã được các chuyên gia giáo dục đưa ra. Trong đó mô hình phát triển CTĐT theo định hướng đáp ứng chuẩn đầu ra OBE – Outcome-Based Education là một trong các phương pháp tiếp cận mà các trường đại học đang có xu hướng đi theo vì đáp ứng được các yêu cầu về ĐBCL của CTĐT, đặc biệt là các yêu cầu về chuẩn đầu ra của sinh viên tốt nghiệp. Tại Việt Nam, công tác ĐBCL các cơ sở giáo dục đại học đã được Bộ giáo dục và Đào tạo đặc biệt chú trọng trong những năm gần đây. Hệ thống đảm bảo và kiểm định chất lượng giáo dục đại học Việt Nam đã được thiết lập đầy đủ theo mô hình do Mạng lưới Chất lượng Châu Á-Thái Bình Dương APQN đề xuất [3], trong đó bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng cấp CTĐT [4] được xây dựng dựa trên cơ sở bộ tiêu chuẩn của Mạng lưới ĐBCL các trường đại học Đông Nam Á AUN-QA [5]. AUN-QA xây dựng các tiêu chuẩn, tiêu chí ĐBCL CTĐT theo tiếp cận OBE. Chính vì thế, các quy định triển khai OBE tại Việt Nam đã được ban hành ở cấp quốc gia, thông qua sự ủy quyền của Bộ giáo dục và Đào tạo, tất cả các cơ sở giáo dục đại học đều phải xây dựng và công bố các chuẩn đầu ra cấp chương trình Program Learning Outcomes – PLOs, đồng thời thực hiện các chương trình đào tạo đáp ứng nhu cầu của xã hội [6]. Trong khuôn khổ bài viết này, các nguyên lý cơ bản và quy trình phát triển CTĐT theo định hướng OBE sẽ được trình bày nhằm làm sáng tỏ ý nghĩa của phương pháp tiếp cận. Bên cạnh đó, quy trình áp dụng OBE vào xây dựng và điều chỉnh CTĐT tại trường ĐHNL được chia sẻ cùng với việc phân tích các vấn đề tồn tại của CTĐT dưới góc nhìn của ĐBCL, như là một kinh nghiệm để các cơ sở giáo dục đại học cùng tham khảo. Cuối cùng, bài viết đưa ra các giải pháp để ĐBCL cấp CTĐT thông qua thực tiễn triển khai OBE tại trường ĐHNL. 2. KHÁI QUÁT VỀ OBE Khái niệm OBE Giáo dục dựa trên đầu ra Outcome-based education-OBE có thể được hiểu là phương thức tiếp cận, xây dựng và vận hành CTĐT dựa trên những kiến thức, kỹ năng mà người học được kỳ vọng tiếp thu được và thể hiện thành công khi tốt nghiệp. OBE chú trọng vào các kết quả học tập, đảm bảo các kiến thức, kỹ năng và thái độ bao gồm cả kỹ năng tư duy mà người học cần lĩnh hội được xác định rõ ràng và thể hiện trong CĐR [4]. Các nguyên lý cơ bản của OBE Tập trung vào năng lực competences hoặc chuẩn đầu ra learning outcomes - LOs Quy định tại Thông tư 07 [7] của Bộ Giáo dục và Đào tạo, chuẩn đầu ra CĐR là yêu cầu tối thiểu về kiến thức, kỹ năng, thái độ, trách nhiệm nghề nghiệp mà người học phải đạt được sau khi hoàn thành CTĐT, được cơ sở đào tạo cam kết với người học, xã hội và công bố công khai cùng với các điều kiện đảm bảo thực hiện. Do đó, CĐR cần được phát biểu một cách rõ ràng ở từng cấp độ trong hệ thống của một cơ sở giáo dục CSGD Hình 1 và có thể đo lường được bằng cách sử dụng thang đo năng lực của Bloom Bloom’s taxanomy. Các thuộc tính của sinh viên tốt nghiệp hay còn gọi là CĐR của người học được các CSGD xác định dựa trên khung trình độ quốc gia và việc đối sánh các CTĐT tương ứng trong và ngoài nước. Các CSGD căn cứ trên CĐR này để thiết kế CTĐT với nhiều học phần khác nhau, được bố trí một cách hợp lý trong suốt thời gian đào tạo nhằm giúp người học đạt được các CĐR mong đợi sau khi hoàn thành tất cả các học phần cần thiết của CTĐT để tốt nghiệp. Các CĐR của từng học phần lại tiếp tục được phân bổ thành các CĐR của từng bài học. Như vậy, việc thiết kế CTĐT, lựa chọn các học phần cho chương trình, xác định các nội dung cần truyền tải đến người học trong từng bài học, tất cả đều phải hướng đến mục tiêu đạt được CĐR của người học khi hoàn thành CTĐT. Tạp Chí Khoa Học Giáo Dục Kỹ Thuật Số 63 04/2021 Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật TP. Hồ Chí Minh Hình 1. Các cấp độ của CĐR trong một CSGD đại học Nguồn [8], [9] Nguyên lý thiết kế ngược Backward curriculum design Hình 2. Mô hình thiết kế CĐR dựa trên nhu cầu của các bên liên quan Nguồn biên dịch từ Mô hình Vertical Alignment of Learning Outcomes and Stakeholders’ Needs của ©Education Quality International [12] Gần đây, một số nhà nghiên cứu ủng hộ quan điểm tiếp cận phát triển CTĐT đáp ứng yêu cầu xã hội [10] [11]. Hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã và đang đặt ra yêu cầu với các cơ sở đào tạo trong việc tham khảo nhu cầu của xã hội khi xây dựng CĐR cho các CTĐT. Điều này đảm bảo việc thiết kế lộ trình đào tạo, chương trình dạy học, nội dung các học phần, các hoạt động bổ sung trong và ngoài nhà trường đều hướng tới việc đáp ứng nhu cầu của người sử dụng lao động. Chuyên gia của AUN đã đưa ra mô hình thiết kế và thực hiện CĐR dựa trên nhu cầu của các bên liên quan [12], thể hiện rõ tính tương thích dọc của CĐR ở các cấp độ trong một CSGD đại học với nhu cầu của các bên liên quan khác nhau Hình 2. Mô hình này cho thấy xuất phát điểm trong thiết kế CTĐT bắt nguồn từ nhu cầu của xã hội, sau đó thu hẹp dần đến nhu cầu của các bên liên quan có liên hệ trực tiếp với CTĐT như cựu người học, nhà tuyển dụng, các cơ quan ban ngành có liên quan đến lĩnh vực đào tạo, kết hợp với phân tích từ các bên liên quan bên trong của CSGD như khoa/bộ môn để gắn kết với định hướng đào tạo của nhà trường. Tiếp đó, các nhu cầu này sẽ được chuyển hoá thành sứ mạng của nhà trường, của khoa/bộ môn và chuyển tải thành mục tiêu đào tạo và CĐR ở các cấp độ khác nhau trong CTĐT. Nguyên lý tương tích có định hướng Constructive alignment Hình 3. Sự tương thích có định hướng Nguồn [9], [13] Chương trình dạy học cần được thiết kế sao cho các phương pháp giảng dạy, học tập và đánh giá người học góp phần hỗ trợ việc đạt được các chuẩn đầu ra. Biggs 2003 [13] gọi tiến trình này là “sự tương thích có định hướng” constructive alignment. “Có định hướng” Constructive có nghĩa là người học chủ động tạo ra sự hiểu biết dựa trên các hoạt động dạy và học có liên quan. “Sự tương thích” Alignment là khái niệm để chỉ hoạt động dạy và học; hoạt động kiểm tra, đánh giá người học được xây dựng tương thích với nhau nhằm đảm bảo việc đạt được chuẩn đầu ra Hình 3. “Sự tương thích có định hướng” liên quan đến các hoạt động sau - Xây dựng CĐR có thể đo lường được. - Lựa chọn các phương pháp dạy và học để đảm bảo việc đạt được chuẩn đầu ra. - Đánh giá mức độ đạt được chuẩn đầu ra của người học. Tạp Chí Khoa Học Giáo Dục Kỹ Thuật Số 63 04/2021 Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật TP. Hồ Chí Minh Để đảm bảo “sự tương thích có định hướng”, hoạt động dạy và học phải được thiết kế dựa theo CĐR sử dụng các phương pháp giảng dạy phù hợp với các phát biểu về CĐR, cần đồng bộ các hình thức kiểm tra đánh giá với các kết quả dự kiến chính là các CĐR, nhằm gắn kết toàn bộ tiến trình học tập thông qua thiết kế các hoạt động học tập có định hướng giúp người học dần đạt được các CĐR đã tuyên bố. Tạo cơ hội học tập liên tục cho người học create learning opportunities Để phù hợp với mục tiêu chung của giáo dục đại học là giáo dục toàn diện cho người học [14], CTĐT cần trang bị cho người học những khả năng sau - Khả năng tự khám phá kiến thức Người học có kỹ năng nghiên cứu, phân tích và tổng hợp tài liệu; hiểu được các chiến lược học tập khác nhau và lựa chọn chiến lược thích hợp nhất cho mình. - Khả năng ghi nhớ kiến thức lâu dài Phương pháp học nhấn mạnh vào khả năng hiểu chứ không phải học thuộc, giúp người học nhớ lâu hơn. - Khả năng nhận thức các mối liên hệ giữa kiến thức cũ và mới Chất lượng học tập phụ thuộc vào khả năng tổng hợp thông tin từ nhiều nguồn khác nhau. - Khả năng tạo ra kiến thức mới Người học học tập có chất lượng biết khám phá tri thức của người khác và gắn kết nó với kinh nghiệm và kiến thức đã học của bản thân để đưa đến những phát kiến mới mẻ. - Khả năng vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề, đặc biệt là các vấn đề trong bối cảnh cụ thể, có mối liên hệ chặt chẽ với thực tiễn. - Khả năng truyền đạt kiến thức cho người khác Chất lượng học tập của người học phụ thuộc vào việc người học có khả năng hình thành và diễn đạt những suy nghĩ và hành động độc lập của mình một cách mạch lạc và rõ ràng. - Tính hiếu học Người học học tập có chất lượng là người học có tinh thần học tập suốt đời. Điều kiện cần thiết cho việc học tập chất lượng gồm - Có sự sẵn sàng trong nhận thức và cảm xúc để đáp ứng nhiệm vụ học tập; - Có lý do để học tập. - Kết nối được kiến thức cũ và mới. - Chủ động trong học tập. - Có được môi trường học tập thuận lợi. Các thành phần của CTĐT tích hợp xây dựng theo OBE CTĐT gồm 6 thành phần cơ bản mục tiêu, CĐR, ý tưởng thiết kế, cấu trúc, ma trận thiết kế, và kế hoạch giảng dạy môn học Hình 4. Việc sử dụng mô hình “mô tả CTĐT tích hợp” cho một loạt các CTĐT kỹ thuật [15] [16] [17] cho thấy sự thúc đẩy phát triển CTĐT dựa trên mục tiêu và hệ thống, do đó, đảm bảo CTĐT được phát triển có mục tiêu rõ ràng, được thiết kế nhằm đạt được các mục tiêu đề ra. Hình 4. Mô hình mô tả CTĐT tích hợp Nguồn [16], [17] Mục tiêu CTĐT POs - Programme Objectives là tuyên bố tổng quát về lý do tồn tại của chương trình, trong đó xác định mục tiêu tổng thể của chương trình, bao gồm bối cảnh, nghề nghiệp, và sự nghiệp tương lai của sinh viên sau khi tốt nghiệp. Mục tiêu CTĐT ít nhất phải xác định lĩnh vực chuyên ngành cụ thể của chương trình VD khoa học máy tính, kỹ thuật chế Tạp Chí Khoa Học Giáo Dục Kỹ Thuật Số 63 04/2021 Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật TP. Hồ Chí Minh tạo, kỹ thuật y-sinh…, bối cảnh hoạt động nghề nghiệp VD hình thành ý tưởng, thiết kế, triển khai… và có thể bao hàm theo một hướng chuyên sâu cụ thể. Theo tiêu chuẩn đánh giá chất lượng CTĐT của AUN-QA phiên bản 3 [5], mục tiêu đào tạo là thành phần bắt buộc của CTĐT. Cụ thể tiêu chí thuộc tiêu chuẩn 1 Expected Learning Outcomes yêu cầu “Mục tiêu của CTĐT được xác định rõ ràng, phù hợp với sứ mạng và tầm nhìn của cơ sở giáo dục đại học, phù hợp với mục tiêu của giáo dục đại học quy định tại Luật giáo dục đại học.” Chuẩn đầu ra CTĐT programme learning outcomes - PLOs là những nội dung cụ thể hóa mục tiêu CTĐT được trình bày thành một danh sách các CĐR đánh giá được. CĐR của CTĐT xác định những kiến thức, kỹ năng và thái độ dự kiến sinh viên đạt được khi tốt nghiệp. Theo tiêu chuẩn đánh giá chất lượng CTĐT của AUN-QA phiên bản 3 [5], CĐR là thành phần bắt buộc của CTĐT. Cụ thể tiêu chí thuộc tiêu chuẩn 1 Criterion 1. Expected Learning Outcomes yêu cầu “CĐR của CTĐT được xác định rõ ràng, bao quát được cả các yêu cầu chung và yêu cầu chuyên biệt mà người học cần đạt được sau khi hoàn thành CTĐT” tiêu chí Ý tưởng thiết kế CTĐT program idea mô tả CTĐT được thiết kế như thế nào để đáp ứng các mục tiêu của nó. Nó thể hiện những nguyên tắc chính yếu và những xem xét làm cơ sở cho việc thiết kế CTĐT. Chương trình dạy học curriculum bao gồm danh sách các môn học và số tín chỉ, và trình tự các môn học trong chương trình. Ma trận các môn học programme design matrix thể hiện sự phân bổ CĐR CTĐT vào các môn học liên quan nhằm thể hiện rõ ràng những CĐR do từng môn học đảm trách. Ma trận các môn học đồng thời thể hiện trình tự học tập được hoạch định hay lộ trình phát triển các CĐR. Đề cương môn học course syllabus thể hiện mục đích, CĐR và nội dung do môn học đảm trách, bao gồm tuyên bố về vai trò của môn học đối với chương trình; thể hiện sự kết nối của môn học với các CĐR của chương trình; và các hoạt động dạy và học, cũng như hoạt động đánh giá. 3. TIẾP CẬN OBE TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ ĐIỀU CHỈNH CTĐT TẠI TRƯỜNG ĐHNL Quy trình thiết kế và phát triển CTĐT xây dựng theo OBE áp dụng tại trường ĐHNL Vào năm 2018, trường ĐNHL đã tiến hành rà soát và cập nhật tất cả CTĐT đại học theo định hướng OBE. Các bước thực hiện cụ thể như trong Bảng 1. Bảng 1. Quy trình thiết kế và phát triển CTĐT áp dụng tại ĐHNL Nguồn [18] Thành lập ban xây dựng CTĐT cấp trường và cấp khoa/bộ môn. Xây dựng kinh phí Đối sánh CTĐT hiện hành với chuẩn kiểm định. Xây dựng mục tiêu CTĐT POs Xây dựng/điều chỉnh CĐR cấp CTĐT PLOs Khảo sát ý kiến các bên liên quan về POs và PLOs. Phân tích kết quả khảo sát Hiệu chỉnh CTĐT, hiệu chỉnh CĐR của các môn học CLOs. Xây dựng ma trận CLOs với PLOs Xây dựng/điều chỉnh/hoàn thiện đề cương môn học syllabus Đánh giá kết quả học tập của môn học kế hoạch đánh giá, công cụ đánh giá Rubric Hoàn thiện CTĐT bản dự thảo Khảo sát ý kiến về CTĐT dự thảo Giảng viên, cựu sinh viên, nhà tuyển dụng, chuyên gia. Phân tích kết quả khảo sát Hoàn thiện CTĐT bản chính thức, thẩm định, phê duyệt CTĐT Áp dụng CTĐT, đánh giá, cập nhật CTĐT 2 năm/lần Tạp Chí Khoa Học Giáo Dục Kỹ Thuật Số 63 04/2021 Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật TP. Hồ Chí Minh Quy trình này được áp dụng cho tất cả các CTĐT trong nhà trường nhằm điều chỉnh và phát triển CTĐT theo yêu cầu từ Thông tư 07 của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Bảng 2. Thống kê các chương trình đào tạo của trường ĐHNL được rà soát năm 2018 Nguồn [19] Các vấn đề tồn tại của các CTĐT tiếp cận theo OBE tại trường ĐHNL dưới góc nhìn của bộ tiêu chuẩn AUN-QA Năm 2019, khi các bước triển khai CTĐT theo OBE tại trường ĐHNL đã hoàn tất, cũng là giai đoạn nhà trường thực hiện đánh giá ngoài 4 CTĐT bởi đoàn chuyên gia AUN-QA, theo bộ tiêu chuẩn AUN-QA phiên bản 3. Các góp ý và khuyến nghị nhận được từ AUN-QA là cơ hội để nhà trường nhìn nhận và tổng kết hiệu quả hoạt động xây dựng và điều chỉnh CTĐT theo tiếp cận OBE năm 2018. Các vấn đề tồn tại của CTĐT dưới góc nhìn của ĐBCL cho thấy Về vấn đề thiết kế CTĐT Plan Chưa tham chiếu Khung trình độ quốc gia Việt Nam Vietnamese Qualifications Framework -VQF khi xây dựng PLOs Các PLOs được xây dựng chưa cụ thể, rõ ràng. Từ đó, việc đánh giá đạt được CĐR gặp nhiều khó khăn. Bảng 3. Thống kê minh chứng về mục tiêu đào tạo POs và PLOs Nguồn [19] Sự tham gia của các bên liên quan vào quá trình xây dựng và điều chỉnh CTĐT chưa rõ ràng, chưa có minh chứng xác thực. Số liệu thống kê các minh chứng xác thực cho việc khảo sát các bên liên quan bên trong và bên ngoài trường được trình bày trong Bảng 4. Bảng 4. Thống kê minh chứng về việc lấy ý kiến các bên liên quan Nguồn [19] Minh chứng lấy ý kiến các bên liên quan Có thể thấy đa số các CTĐT chưa có minh chứng xác thực cho việc lấy ý kiến các bên liên quan trong quá trình rà soát CTĐT. Trong các CTĐT đã thực hiện xây dựng ma trận tương thích giữa PLOs và các môn học thì đa số các CTĐT chưa thể hiện được sự hỗ trợ phát triển dần năng lực của người học theo tiến trình học tập. Số liệu cụ thể tại Bảng 5. Bảng 5. Thống kê minh chứng về ma trận tương thích giũa PLOs và các môn học Nguồn [19] Về vấn đề thực hiện CTĐT Do Bảng 6. Thống kê minh chứng về việc rà soát và cập nhật đề cương chi tiết học phần Nguồn [19] Trong số các CTĐT có thực hiện rà soát và cập nhật đề cương chi tiết học phần thì một số CTĐT chưa thể hiện rõ sự tương thích có định hướng constructive alignment trong CTĐT, đặc biệt là giữa hoạt động kiểm tra đánh giá người học với CĐR của môn học Course Learning Outcomes – CLOs Tạp Chí Khoa Học Giáo Dục Kỹ Thuật Số 63 04/2021 Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật TP. Hồ Chí Minh Bảng 7. Mức độ hài lòng của sinh viên tốt nghiệp năm 2018 về các môn học trong CTĐT Nguồn [20] Đánh giá về các môn học trong CTĐT Cung cấp đủ kiến thức phù hợp với mục tiêu đào tạo Giúp phát triển kỹ năng tư duy, sáng tạo, tự học, tự nghiên cứu Giúp phát triển kỹ năng giao tiếp, phối hợp làm việc nhóm Có nhiều môn học tự chọn đáp ứng nhu cầu của người học Phương pháp giảng dạy của một số môn học chưa đáp ứng được việc hỗ trợ người học đạt được CLOs và PLOs. Bảng 8. Mức độ hài lòng của sinh viên tốt nghiệp năm 2018 về phương pháp giảng dạy Nguồn [20] `Đánh giá về phương pháp giảng dạy Phương pháp giảng dạy rõ ràng, dễ hiểu, phù hợp Phương pháp giảng dạy tạo điều kiện cho SV tự học và nghiên cứu Cơ sở vật chất CSVC vẫn chưa đáp ứng đủ hoàn toàn nhu cầu đào tạo, đặc biệt là phòng học, phòng thực hành, thí nghiệm và trang thiết bị thực hành, thí nghiệm. Các tiêu chí này chỉ được từ 52-63% sinh viên tốt nghiệp đánh giá là hài lòng trong tổng số 900 sinh viên tốt nghiệp làm khảo sát vào năm 2018. Số liệu cụ thể trong Bảng 9. Bảng 9. Thống kê mức độ hài lòng của sinh viên tốt nghiệp năm 2018 về CSVC Nguồn [20] Phòng thực hành-thí nghiệm Trang thiết bị thực hành-thí nghiệm Môi trường, cảnh quan của Trường Chưa có minh chứng rõ ràng về việc tạo cơ hội học tập liên tục cho người học trong suốt quá trình học tập. Về vấn đề đánh giá CTĐT Check Chưa có hệ thống rõ ràng các chỉ số indicators để theo dõi quá trình đào tạo. Mặc dù hệ thống quản lý đào tạo vẫn có các dữ liệu về quá trình đào tạo của người học nhưng chưa có cơ chế để theo dõi và đối sánh trong và ngoài trường các chỉ số cụ thể phục vụ cho công tác quản lý đào tạo. Các số liệu chỉ được thống kê khi thực hiện các báo cáo định kỳ theo yêu cầu của cơ quan chủ quản và phục vụ các hoạt động thường xuyên của nhà trường ví dụ tuyển sinh. Chưa xây dựng cơ sở dữ liệu hoàn chỉnh để phục vụ hiệu quả hơn cho công tác ĐBCL bên trong. Hiện nay, cơ sở dữ liệu của các mảng hoạt động đang được sử dụng và quản lý bởi các đơn vị chức năng, chưa nối kết với nhau một cách hệ thống. Về vấn đề cải tiến CTĐT Act Việc khảo sát các bên liên quan để làm căn cứ cập nhật CTĐT chưa được thực hiện định kỳ ở một số khoa/bộ môn. Tạp Chí Khoa Học Giáo Dục Kỹ Thuật Số 63 04/2021 Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật TP. Hồ Chí Minh Kết quả khảo sát và/hoặc lấy ý kiến các bên liên quan chưa được thể hiện rõ ràng trong kết quả cập nhật CTĐT. Bảng 10. Thống kê báo cáo tổng hợp, phân tích kết quả khảo sát, lấy ý kiến các bên liên quan Nguồn [19] Giải pháp để ĐBCL cấp CTĐT theo AUN-QA Thông qua việc phân tích các tồn tại của CTĐT theo tiếp cận OBE, các giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện và ĐBCL các CTĐT tại trường ĐHNL đã được đề xuất bao gồm Đào tạo nguồn nhân lực Đào tạo chuyên sâu về xây dựng và phát triển CTĐT cho đội ngũ quản lý CTĐT ban chủ nhiệm khoa/bộ môn, giáo vụ khoa, nhóm chuyên trách tự đánh giá CTĐT, cán bộ quản lý đào tạo Phòng đào tạo, Phòng đào tạo sau đại học, cán bộ quản lý chất lượng giáo dục Phòng quản lý chất lượng. Tập huấn đội ngũ giảng viên về triết lý giáo dục và cách chuyển tải vào việc dạy và học; các cách tiếp cận trong giảng dạy Teaching Approaches; các phương thức truyền đạt trong giảng dạy Modes of Delivery; và các kỹ thuật đánh giá người học Student Assessments. Hoàn thiện hệ thống ĐBCL chất lượng bên trong Rà soát và cập nhật quy trình ĐBCL các hoạt động chức năng của nhà trường Kết nối cơ sở dữ liệu hiện có để xây dựng một cơ sở dữ liệu chung trong toàn trường nhằm xây dựng hệ thống các chỉ số theo dõi và kiểm soát chất lượng đào tạo. Từng bước xây dựng văn hóa chất lượng trong nhà trường. Đầu tư phát triển CSVC phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học Xây dựng chiến lược đầu tư CSVC phù hợp và hiệu quả cho các CTĐT đăng ký đánh giá chất lượng trong thời gian tiếp theo Cải tiến quy trình bảo trì, bảo dưỡng, sửa chữa, thay thế trang thiết bị, CSVC của nhà trường nhằm đáp ứng nhanh với nhu cầu của viên chức, giảng viên và người học. Phát triển thư viện điện tử. Áp dụng hiệu quả hệ thống E-learning với chính sách, quy định rõ ràng. Tăng cường kết nối với các bên liên quan Phát triển đa dạng và hiệu quả các kênh liên lạc với các bên liên quan trang thông tin điện tử trường và khoa/bộ môn, hội thảo, tọa đàm, email, điện thoại… Củng cố và phát triển thêm nhiều hoạt động để tăng cường sự hợp tác, liên kết với các bên liên quan trong đào tạo và nghiên cứu, chuyển giao công nghệ. Xây dựng cơ chế phản hồi thông tin từ đại diện các bên liên quan GV, SV, cựu SV, nhà tuyển dụng, chuyên gia trong lĩnh vực đào tạo, cơ quan quản lý nhà nước… 4. KẾT LUẬN Việc thiết kế và phát triển CTĐT là một công việc khá vất vả, đòi hỏi người thực hiện cần phải không chỉ vững vàng kiến thức chuyên ngành mà còn phải nắm vững các kiến thức về giáo dục, các kỹ năng để thực hiện khảo sát đạt kết quả như mong đợi, các kỹ năng viết CĐR theo thang đo như thang Bloom để có thể lượng hóa và đánh giá được, các kiến thức về hoạt động dạy, học và đánh giá. Tất cả các kiến thức, kỹ năng đó, cần được thực hiện dựa trên các nguyên tắc cơ bản của OBE bao gồm tập trung vào năng lực competences hoặc CĐR learning outcomes; thiết kế CTĐT dựa trên nhu cầu của các bên liên quan – “thiết kế ngược” backward curriculum design; nguyên lý tương thích có định hướng constructive alignment trong quá trình triển khai hoạt động hoạt động dạy và học, cũng như hoạt động kiểm tra, đánh giá; và phải tạo cơ hội học tập liên tục cho người học. Việc hiểu rõ mô hình OBE để vận dụng Tạp Chí Khoa Học Giáo Dục Kỹ Thuật Số 63 04/2021 Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật TP. Hồ Chí Minh hiệu quả vào việc phát triển các CTĐT, cũng như các giải pháp căn cơ để phát triển đồng bộ về nguồn nhân lực, vật lực và các quy trình giải quyết hành chính thông suốt, sẽ là các yếu tố vô cùng quan trọng để ĐBCL các CTĐT trong nhà trường. Thông qua thực tiễn áp dụng OBE tại trường ĐHNL, chúng tôi muốn tổng kết và chia sẻ các kết quả đạt được và tồn tại, cũng như các bài học rút ra từ quy trình thiết kế và phát triển CTĐT tại nhà trường, như là một kinh nghiệm tham khảo cho các cơ sở giáo dục đại học, với mục tiêu chung cùng hướng đến việc ĐBCL các CTĐT. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Beauchamp, Curriculum Theory. Pub ID 102=087-080, Peacock Publishers, 1981. [2] Sơn, N. T. 2015, Phát triển chương trình đào tạo đại học theo định hướng đáp ứng chuẩn đầu ra, Tạp chí khoa học trường Đại học An Giang, Journal of Science – 2015, 1, trang 50 – 54. [3] Cương, Nguyễn Hữu. “Một số kết quả đạt được của kiểm định chất lượng giáo dục đại học Việt Nam và kế hoạch triển khai trong tương lai” Journal of Education 2017 7-14. [4] Công văn số 1074/KTKĐCLGD-KĐĐH ngày 28 tháng 6 năm 2016 của Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục V/v hướng dẫn chung về sử dụng tiêu chuẩn đánh giá chất lượng CTĐT các trình độ của GDĐH. [5] Guide to AUN-QA assessment at programme level, version 3. [6] Doan, T. T., & Nguyen, N. H. 2014, June. The CDIO-based curricular framework and guidelines for an OBE implementation. In Proceedings of the 10th International CDIO Conference. [7] Thông tư 07/2015/TT-BGDĐT ngày 16/4/2015 của Bộ trưởng bộ GDĐT về việc Ban hành quy định về khối lượng kiến thức tối thiểu, yêu cầu về năng lực mà người học đạt được sau khi tốt nghiệp đối với mỗi trình độ đào tạo của giáo dục đại học và quy trình xây dựng, thẩm định, ban hành chương trình đào tạo trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ. [8] Johnson Ong. ©Education Quality International model of Learning Outcome Tree. The 1st AUN-QA Workshop “Applied Approach to Designing and Implementing OBE Framework” Bangkok, Thailand. 23 – 26 January 2018. [9] Đào Phong Lâm. Tài liệu tập huấn “Trình bày báo cáo tự đánh giá cấp chương trình đào tạo theo tiêu chuẩn AUN-QA V3” tại trường đại học Nông Lâm Chí Minh. 15 tháng 10 năm 2020. [10] Chính phủ, Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020. [11] Nguyễn Thị Bình, Vấn đề khoa học giáo dục và sự cần thiết phải thay đổi cách nghĩ, cách làm về giáo dục, Tạp chí Quản lý giáo dục, tập số 22, tháng 3/2011, 1-4, 2011. [12] Johnson Ong. ©Education Quality International model of Vertical Alignment of Learning Outcomes and Stakeholders’ Needs. The 1st AUN-QA Workshop “Applied Approach to Designing and Implementing OBE Framework” Bangkok, Thailand. 23 – 26 January 2018. [13] Biggs, Teaching for quality learning at university. Buckingham Open University Press/Society for Research into Higher Education, 2nd edition, 2003. [14] Quyết định số 58/2010/QĐ-TTg ngày 22/9/2010 của Thủ Tướng Chính Phủ về việc ban hành Điều lệ trường đại học. Trích Chương 10, Điều 53, khoản 4. [15] Berglund, F., & Malmqvist, J., Intergrated CDIO-Based Master Programme in Product Development, Paper presented at the 3rd International CDIO Conference, MIT, Cambridge, Massachusetts, 2007, June. Tạp Chí Khoa Học Giáo Dục Kỹ Thuật Số 63 04/2021 Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật TP. Hồ Chí Minh [16] Malmqvist, J., Ostlund, S., Adstrom, K., Intergrated Program Desciptions – A Tool for Communicating Goals and Design of CDIO Programs, Paper presented at the 2nd International CDIO Conference, Linkoping University, Sweden, 2006, June. [17] Trinh, Đoàn, & Nghia, H. Nguyen, An Outcome-Based Curricular Framework and Design Templates for Engineering Programmes, Paper presented at the IETEC’ 13 Confererence, Ho Chi Minh City, Vietnam, 2013. [18] Phòng Đào tạo, trường đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh. “Tài liệu tập huấn Thực hiện thông tư 07/2015/TT-BGDĐT để rà soát, điều chỉnh, hoàn thiện CTĐT theo chuẩn kiểm định trong nước và khu vực”, tháng 3 năm 2018. [19] Báo cáo thực hiện kế hoạch số 141/ĐHNL-ĐT ngày 06/01/2018 về việc “Rà soát, điều chỉnh và hoàn thiện chương trình đào tạo theo chuẩn kiểm định trong nước và quốc tế AUN-QA” năm 2018 của phòng Đào tạo, trường đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh báo cáo thống kê đến tháng 11/2018. [20] Báo cáo kết quả khảo sát sinh viên tốt nghiệp năm 2018 trong toàn trường của phòng Quản lý chất lượng, trường đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh. Tác giả chịu trách nhiệm bài viết Mai Anh Thơ Khoa Công nghệ Thông tin, Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật TPHCM. Email thoma ... Nong Lam University -Ho Chi Minh City has the opportunity to assess and reinforce its internal quality framework with practical solutions for strategic planning by using this method to the study program creation process. Mai et al., 2021. Training program development is a never-ending process. ...Nam Hai Hoang Hang Nguyen Thi ThuThi Phuong Huyen PhamThang The NguyenThe training program is the focus of all pedagogical activities in particular and educational activities in general, so the development of training programs and activities related to the development of training programs have become an important issue and are of interest to many educational scientists. The literature review method is used in this study to collect and extract the data from the national database system to show an overview of training program research and training program development that have been conducted in Vietnam. The findings indicate that the training programs have been changed from content training to training to form learners' competence. Furthermore, the programs are developed using a variety of modern perspectives and theories, such as output standards, educational innovation needs, liberal educational philosophy, competency-based performance, and so on. However, many more studies should be carried out to not only point out the limitations of the system of studies on training programs but also provide scientific evidence for new directions of training program development that should be developed and applied by the education system. Keywords training program, program development, program design, literature review, Vietnam education Cuong Huu NguyenKiểm định chất lượng giáo dục đại học đã được triển khai ở nước ta được hơn 10 năm. Tuy nhiên, hoạt động này vẫn được xem như còn khá mới mẻ đối xã hội và kể cả với nhiều cơ sở giáo dục đại học. Bài viết này trước hết tổng hợp một số kết quả đạt được, trọng tâm vào xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng, kiểm định cơ sở giáo dục và kiểm định chương trình đào tạo. Tiếp theo, nghiên cứu trình bày kế hoạch triển khai công tác kiểm định chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam trong thời gian triển chương trình đào tạo đại học theo định hướng đáp ứng chuẩn đầu ra, Tạp chí khoa học trường Đại học An GiangN T SơnChiến lược phát triển giáo dụcChính Phủ©Education Quality International model of Vertical Alignment of Learning Outcomes and Stakeholders’ Needs. The 1st AUN-QA Workshop “Applied Approach to Designing and Implementing OBE FrameworkJohnson OngIntergrated Program Desciptions - A Tool for Communicating Goals and Design of CDIO ProgramsJ MalmqvistS OstlundK AdstromAn Outcome-Based Curricular Framework and Design Templates for Engineering Programmes, Paper presented at the IETEC’ 13 ConfererenceT M TrinhĐoànH NghiaNguyenThe CDIO-based curricular framework and guidelines for an OBE implementationT T DoanN H Nguyen©Education Quality International model of Learning Outcome Tree. The 1st AUN-QA Workshop “Applied Approach to Designing and Implementing OBE FrameworkJohnson Ong
Chương 2 QUY TRÌNH PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH NHÀ Quan niệm về phát triển chương trìnhPhát triển CTGD Curriculum development là một quá trình liên tụcnhằm hoàn thiện không ngừng CTGD. Theo quan điểm này, CTGD là một thựcthể không phải được thiết kế một lần và dùng mãi mãi, mà liên tục được bổsung, điều chỉnh, hoàn thiện tuỳ theo sự thay đổi của tình hình phát triển kinh tế- xã hội, trình độ khoa học, kĩ thuật và công nghệ, và cũng là theo yêu cầu củathị trường lao động. Nói cách khác, một khi mục tiêu giáo dục, đào tạo của nềngiáo dục quốc dân có sự thay đổi để đáp ứng nhu cầu xã hội thì CTGD cũngthay đổi theo. Sự thay đổi của xã hội và giáo dục là quá trình diễn ra liên tụcnên CTGD cũng phải được không ngừng phát triển và hoàn một vài quan điểm trong cách tiếp cận khái niệm “phát triển CTGD”.Tim Wentling 1993 chia quy trình phát triển chương trình giáo dụcthành 3 giai đoạn chuẩn bị, thực thi, đánh giá CTGD. Giai đoạn chuẩn bị củaphát triển CTGD bao gồm1 Xác định nhu cầu đào Xác định mục tiêu đào Sắp xếp nội dung đào Lựa chọn phương pháp, kĩ thuật đào Xác định nguồn lực cần cho quy trình đào Sắp xếp, lên kế hoạch cho các bài Lựa chọn, sáng tạo các vật liệu hỗ trợ quá trình đào Lựa chọn, xây dựng các hình thức kiểm tra đánh giá kết quả học Thử nghiệm, chỉnh lí CTGD trước khi áp dụng đại trà.Như vậy theo T. Wentling, phát triển CTGDNT là quá trình thiết kếCTGD của mỗi nhà trường. Sản phẩm của quá trình này là một bản kế hoạchmô tả CTGD đầy đủ từ mục tiêu chi tiết cụ thể, nội dung kiến thức, kĩ năng,thái độ, phương pháp đào tạo, các phương tiện hỗ trợ đào tạo, tới phương pháp,cách thức đo lường, đánh giá kết quả học tập của sinh viên đối chiếu với hệmục tiêu. Tuy nhiên, CTGD sau khi được thực thi, được đánh giá thì nhữngthông tin phản hồi đó luôn được sử dụng ngay trong các giai đoạn của quá trình1
Phát triển phần mềm là một trong những con đường sự nghiệp hàng đầu khi nói đến lĩnh vực CNTT. Cho dù bạn xuất thân với kiến thức về khoa học máy tính hay liên quan đến toán học, chuyên ngành này có thể cực kỳ hấp dẫn. Nếu bạn đang tự hỏi làm thế nào để trở thành một nhà phát triển phần mềm, ngay từ đầu, bạn sẽ cần biết những khía cạnh chính tạo nên một nhà phát triển tuyệt vời. Và đó chính xác là những gì chúng ta sẽ nói đến trong hướng dẫn này. Để bắt đầu, chúng ta sẽ nói về con đường sự nghiệp của nhà phát triển phần mềm. Bạn sẽ có cơ hội tìm hiểu software developer là gì và phân biệt nhà phát triển phần mềm software developer với kỹ sư phần mềm software engineer. Sau khi hoàn tất, chúng ta sẽ chuyển sang các hướng dẫn thực tế và đề cập đến ba khía cạnh quan trọng tạo nên một nhà phát triển phần mềm mà mọi nhà tuyển dụng muốn thuê. Cuối cùng, ở phần cuối, chúng ta sẽ kiểm tra một số lý do chính khiến mọi người muốn trở thành nhà phát triển phần mềm ngay từ đầu. Nội dung 1. Giới thiệu về nhà phát triển phần mềm2. Trở thành nhà phát triển phần Giáo dục chính Lựa chọn thay thế3. Tại sao trở thành nhà phát triển phần mềm?4. Bạn có nên trở thành nhà phát triển phần mềm không? Giới thiệu về nhà phát triển phần mềm Software developer là gì và những người này làm gì? Chắc chắn, nếu bạn đang cố gắng tìm cách trở thành nhà phát triển phần mềm, bạn có thể đã biết các tính năng chính liên quan đến nghề này. Tuy nhiên, để đảm bảo rằng cả hai chúng ta đều cùng một cách hiểu, hãy cùng điểm qua những điểm chính của chuyên ngành này. Các nhà phát triển phần mềm chủ yếu quan tâm chỉ đến vấn đề đó - phát triển phần mềm. Tuy nhiên, điều mà bạn không biết là có một số kiểu nhà phát triển phần mềm khác nhau ngoài kia. Các nhà phát triển này có thể làm việc với các chương trình máy tính để bàn, phát triển nền tảng web, Hơn nữa, nếu chúng ta đang nói về phát triển web, bạn có thể chuyên về phát triển front-end, back-end hoặc full-stack… Có rất nhiều kiểu nhà phát triển khác nhau! Và họ đều biết về quy trình phát triển phần mềm. Như đã nói, tất cả các nhà phát triển phần mềm này đều làm việc với các nền tảng cụ thể và có xu hướng tập trung vào hai nhiệm vụ lớn - lưu trữ và cập nhật các phiên bản hiện tại của các nền tảng này. Là một nhà phát triển phần mềm, bạn sẽ phải làm việc cùng với các nhà thiết kế, kỹ sư, chuyên gia tiếp thị và nhiều người khác để thiết lập một lộ trình phát triển rõ ràng và tìm ra một lộ trình làm việc đã thỏa thuận. Vì vậy, tóm lại, nếu bạn muốn học cách trở thành một nhà phát triển phần mềm, điều đầu tiên bạn cần làm là thiết lập chính xác những gì bạn muốn phát triển nền tảng web, ứng dụng máy tính để bàn, Tất cả các chi tiết cụ thể của công việc sẽ được xác định dựa trên quyết định mà bạn đưa ra. Bây giờ bạn biết software developer là gì. Tuy nhiên, nhiều người vẫn có xu hướng nhầm lẫn công việc của software developer và software engineer. Không đi sâu quá nhiều chi tiết, chỉ cần lưu ý rằng các nhà phát triển phần mềm làm việc với chính phần mềm đó, trong khi các kỹ sư phần mềm quan tâm đến cốt lõi của phần mềm. Nói cách khác, các kỹ sư phần mềm xây dựng nền tảng mà phần mềm thực tế sau đó được phát triển. Kết quả tìm kiếm được yêu thích nhất Bạn đang tìm kiếm thông tin chuyên sâu về các chủ đề liên quan? Chúng tôi đã thu thập các bài viết tương tự để tiết kiệm thời gian cho bạn! Hãy cùng xem! Bây giờ, có lẽ khá rõ ràng rằng có rất nhiều điều bé nhỏ tạo nên một nhà phát triển phần mềm tốt và đáng tin cậy. Trong hướng dẫn "Cách trở thành nhà phát triển phần mềm" này, chúng tôi sẽ tập trung vào ba khía cạnh thường được tham khảo nhất giáo dục chính quy, học trực tuyến e-learning và tích lũy kinh nghiệm. Nếu bạn có tất cả những điểm này, bạn có thể chắc chắn rằng mình đang đi đúng hướng để trở thành nhà phát triển phần mềm. Giáo dục chính quy Giáo dục là nền tảng quan trọng của sự nghiệp nhà phát triển phần mềm thành công. Thông thường, giáo dục phù hợp sẽ là yếu tố quyết định bạn có được công việc, đặc biệt nếu bạn đang cố gắng được tuyển dụng trong một tập đoàn lớn. Sau khi học xong trung học, tốt nhất bạn nên thử học lên cao hơn trong lĩnh vực Toán học hoặc Khoa học Máy tính. Một số trường cao đẳng và đại học cung cấp chuyên ngành cụ thể là phát triển phần mềm, nhưng nó vẫn không phải là tất cả những gì phổ biến. Trong khi nghiên cứu cách trở thành nhà phát triển phần mềm, bạn nên tập trung vào hai điều - tìm hiểu càng nhiều thông tin càng tốt và tham gia càng nhiều sự kiện liên quan đến phát triển phần mềm càng tốt. Ngoài ra, nếu bạn tham gia vào các sự kiện khác nhau liên quan đến phát triển phần mềm hội nghị, hội thảo, câu lạc bộ, bạn sẽ tăng cơ hội được các nhà tuyển dụng tiềm năng chú ý sớm hơn. Sau khi bạn học xong đại học hoặc cao đẳng và nhận bằng cử nhân, bạn nên tiếp tục và học lên thạc sĩ. Trình độ học vấn của bạn càng cao, bạn càng có nhiều cơ hội được nhà tuyển dụng tiềm năng để ý CV của bạn. Và bạn cũng không cần phải tập trung rõ ràng vào việc học của mình - rất nhiều người theo học bằng thạc sĩ đã đi làm hoặc bắt đầu làm việc trong một công ty cụ thể. Điều quan trọng là bắt đầu làm việc trong lĩnh vực chuyên môn của bạn càng sớm càng tốt để có được những kiến thức làm việc vô giá. Lựa chọn thay thế Khi nói đến giáo dục phù hợp, học chính thống không phải là lựa chọn duy nhất của bạn. Ngày càng có nhiều người quan tâm đến cách trở thành nhà phát triển phần mềm và hướng tới việc học tập cá nhân, độc lập. Phương pháp được gọi là “e-learning” là một ví dụ tuyệt vời về điều này. Mọi người cố gắng có được và phát triển kỹ năng nhà phát triển phần mềm của họ bằng cách đăng ký các khóa học trực tuyến và các chương trình đặc biệt chương trình đào tạo cho phép dạy phát triển phần mềm ở cùng cấp độ hoặc thậm chí tốt hơn như các cơ sở giáo dục chính quy. Học trực tuyến Bắt đầu một phương pháp học tập thay thế cho giáo dục chính quy nên bắt đầu bằng việc quyết định mục tiêu cuối cùng của quá trình học tập là gì. Nó có thể khác nhau, một số người mong muốn trở thành nhà phát triển phần mềm và làm việc trong một công ty duy nhất trong nhiều năm, những người khác muốn làm việc tự do và làm việc độc lập. Một điều quan trọng khác là chọn một ngôn ngữ lập trình mà bạn sẽ bắt đầu. Không có gì là bí mật khi hầu hết chúng ta có thể bị choáng ngợp lúc đầu và bạn sẽ không thể học hầu hết chúng cùng một lúc. Mặt khác, khi bạn thành thạo một ngôn ngữ lập trình - việc chuyển đổi sang ngôn ngữ khác không khó lắm. Cuối cùng, mục tiêu về cách trở thành một nhà phát triển phần mềm là hoàn toàn thông thạo các ngôn ngữ lập trình mà bạn đang làm việc. Đối với nhiều người - Python là ngôn ngữ đang phát triển. Nó được coi là một trong những ngôn ngữ lập trình phổ biến nhất và khá dễ dàng để chuyển đổi từ nó. Ngoài ra, nó được sử dụng trong rất nhiều quy trình phát triển phần mềm mà bạn có thể tìm thấy thành công. BitDegree cung cấp nhiều khóa học về Python ở các trình độ khác nhau. Hơn nữa, nếu bạn tìm thấy một khóa học mà bạn không đủ khả năng, bạn có thể thử đăng ký học bổng cho các lớp học trực tuyến trên BitDegree. Tuy nhiên, điều đáng nói là việc không được đào tạo chính quy có thể khiến bạn khó kiếm được việc làm trong ngành này hơn. Mặc dù ngày nay nhiều người sử dụng lao động linh hoạt hơn rất nhiều so với thời điểm trước đây, giả sử như 10 năm trước, hầu hết họ vẫn thích nhân viên của mình học theo con đường giáo dục “truyền thống”. Điều này chủ yếu là do rất nhiều người muốn học cách trở thành một nhà phát triển phần mềm đánh giá thấp độ khó của nghề này. Hơn nữa, nếu bạn đang học cá nhân, bạn sẽ khó tìm và tham gia vào các sự kiện và thực tập cụ thể hơn. Kinh nghiệm Bạn không cần phải có “kinh nghiệm làm việc trước đây” để có thể nhận công việc nhà phát triển phần mềm ở trình độ mới vào. Có lẽ bạn sẽ không thể làm việc trong một công ty mơ ước và kiếm được một khoản tiền không đáng có ngay từ đầu, nhưng vị trí của người mới bắt đầu sẽ không quá khó để có được. Tại BitDegree, bạn có thể tìm thấy học bổng cho các khóa học sẽ được trả bởi một nhà tuyển dụng tiềm năng có thể cung cấp cơ hội việc làm khi kết thúc khóa học. Nói như vậy, có lẽ sẽ có nhiều người đang cố gắng để được tuyển dụng vào vị trí tương tự, vậy tại sao công ty lại chọn bạn? Vâng, đây là lúc cần đến kinh nghiệm. Ở khía cạnh này, kinh nghiệm có liên quan mật thiết đến động lực. Tất cả các hội nghị, hội thảo và các dự án cá nhân nêu trên cộng lại. Bạn có thể làm phong phú thêm CV của mình với tất cả những điều này. Ngay cả khi bạn không có bất kỳ kinh nghiệm làm việc nào trước đây, các nhà tuyển dụng tiềm năng của bạn sẽ thấy rằng bạn là một thành viên tích cực của cộng đồng nhà phát triển phần mềm và điều này sẽ tăng cơ hội được rất nhiều người tuyển dụng. Hơn nữa, nếu bạn đang cố gắng học cách trở thành nhà phát triển phần mềm, hãy nhớ rằng bạn sẽ phải thể hiện động lực tối đa ngay khi được tuyển dụng. “Có động lực” trước và trong khi phỏng vấn xin việc thôi là chưa đủ - bạn càng đam mê chủ đề phát triển phần mềm thì công việc của bạn càng tốt và bạn càng có thể leo lên nấc thang nghề nghiệp sớm hơn! Tại sao trở thành nhà phát triển phần mềm? Bây giờ chúng ta đã đề cập đến tất cả các khía cạnh chính giúp bạn hiểu con đường phát triển phần mềm, hãy quay lại một chút và nói về lý do tại sao ai đó muốn trở thành nhà phát triển phần mềm ngay từ đầu. Một trong những điều đầu tiên đến với tâm trí của hầu hết mọi người, những người thắc mắc về cách trở thành nhà phát triển phần mềm là tiền lương. Không có gì bí mật khi các chuyên gia trong lĩnh vực CNTT cụ thể là - trong lĩnh vực Khoa học Máy tính có một mức lương tốt nhất trên thế giới. Phát triển phần mềm cũng không khác - đó là một con đường sự nghiệp không chỉ được săn đón nhiều mà còn thống trị thị trường việc làm CNTT. Hơn nữa, đó là một nghề thực sự khó để thực sự thành thạo - điều hợp lý là những phần thưởng sẽ phù hợp với công sức mà bạn bỏ ra. Theo mức lương hàng năm của nhà phát triển phần mềm thông thường phải hơn đô la một chút. Con số này sẽ vào khoảng 6140$ mỗi tháng. Đó là một mức lương tuyệt vời và nó chỉ ở mức trung bình! Nếu bạn làm việc chăm chỉ và nỗ lực, bạn sẽ có thể leo lên mức trung bình nhanh chóng! Một điều khác thu hút mọi người đến với con đường sự nghiệp của nhà phát triển phần mềm là các cơ hội nghề nghiệp mà nó cung cấp. Bạn gần như có thể chắc chắn rằng mười năm nữa, các nhà phát triển phần mềm sẽ cần nhiều hơn bây giờ. Điều này đảm bảo công việc ổn định và cho bạn thấy rằng không có giới hạn nào đối với việc bạn có thể tiến xa với các kỹ năng nhà phát triển phần mềm của mình. Nói chung, những điều này và nhiều chi tiết nhỏ hơn cộng lại tạo nên mối quan tâm lớn đối với chuyên ngành phát triển phần mềm. Kết quả tìm kiếm xu hướng nhất Hiển thị bộ sưu tập bài viết, chỉ dẫn & hướng dẫn kỹ lưỡng nhất liên quan đến Nền tảng học trực tuyến của chúng tôi. Luôn cập nhật & đưa ra quyết định được thông tin! Bạn có nên trở thành nhà phát triển phần mềm không? Nếu bạn là một người sáng tạo, yêu thích lập trình và nhận thấy anh ấy hoặc cô ấy thường xuyên đặt câu hỏi về cách trở thành nhà phát triển phần mềm, hay quy trình phát triển phần mềm, bạn nên dành một chút thời gian để xem xét lựa chọn nghề nghiệp này. Đó không phải là một con đường dễ dàng để đi, nhưng như bạn bây giờ có thể hiểu, phần thưởng chắc chắn xứng đáng. Trong hướng dẫn này, chúng tôi không chỉ đề cập đến các khía cạnh chính cần có để trở thành một nhà phát triển phần mềm thành công mà còn nói về chính nghề nghiệp. Hơn nữa, bây giờ bạn nên biết tại sao đó lại là con đường sự nghiệp phổ biến và nó sẽ không sớm biến mất. Vì vậy, nếu bạn đang suy nghĩ về việc lựa chọn con đường sự nghiệp của nhà phát triển phần mềm và bạn vẫn chưa bắt đầu, thì thời điểm tốt nhất để bắt đầu là bây giờ. Hãy chọn một khóa học và bắt đầu học! Để lại phản hồi chân thật của bạn Hãy để lại ý kiến xác thực của bạn & giúp hàng nghìn người chọn được nền tảng học online tốt nhất. Tất cả phản hồi, dù tích cực hay tiêu cực, đều được chấp nhận miễn là chúng trung thực. Chúng tôi không công khai phản hồi thiên vị hoặc thư rác. Vì vậy, nếu bạn muốn chia sẻ kinh nghiệm, ý kiến hoặc đưa ra lời khuyên - phần này dành cho bạn!
phát triển chương trình