⛄ Dàn Ý Phân Tích Bài Thương Vợ

Dàn ý phân tích Vợ Nhặt I. Mở bài - Giới thiệu khái quát về tác giả Kim Lân ( những nét chính về tiểu sử, những tác phẩm chính, phong thái thẩm mỹ và nghệ thuật … ) - Giới thiệu khái quát về truyện ngắn Vợ nhặt ( thực trạng sinh ra, khái quát giá trị nội dung và thẩm mỹ và nghệ thuật .. ) II. Thân bài 1. Ý nghĩa nhan đề và tình huống truyện 2.Tác phẩm:Thương vợ - Đề tài: viết về người vợ Mới, lạ trong văn học trung đại - Phân tích đề lập dàn ý bài văn nghị luận, Thao tác lập luận phân tích - Mỗi bạn chuẩn bị 5 đề văn nghị luận. Dàn ý trao duyên 14 câu tiếp theo. 1. Chỉ dẫn phân tích1.1. So với đề1.2. Khối hệ thống luận điểm1.3. Lập dàn ý chi tiết1.4. Sơ đồ bốn duy2. đứng top 2 bài bác văn hay2.1. Bài xích số 12.2. Bài xích số 2. Hai kiệt tác "Sông Lấp" và "Thương vợ" tiêu biểu cho dòng thơ trữ tình của Tú Xương. Bài thơ sau đây là bài "Thương vợ" của Tú Xương: "Quanh năm buôn bán ở mom sông, Nuôi đủ năm con với một chồng. Lặn lội thân cò khi quãng vẵng, Eo sèo mặt nước buổi đò đông. Một duyên hai nợ âu đành phận, Năm nắng mười mưa dám quản công. Cha mẹ thói đời ăn ở bạc, Bạn đang xem: Phân tích việt bắc hay dàn ý và 20 bài văn mẫu đặc sắc nhất. I. Mở bài phân tích bài xích Việt Bắc 1. Reviews tác giả - Tố Hữu (1920-2002) sinh ra ở Huế, là nhà thơ tiêu biểu và đi đầu cho nền thơ bí quyết mạng Việt Nam. Đây là một người phụ nữ có nhan sắc, có đức hạnh nhưng phải chịu một số phận bi thảm. 2.Phân tích a. Là người có phẩm chất tốt đẹp: _Ngay từ đầu đã được giới thiệu: Vũ Nương, người con gái quê ở Nam Xương,"tính đã thùy mị nết na, lại thêm tư dung tốt Thân bài phân tích tác phẩm Vợ chồng A phủ a) Phân tích nhân vật mị trong vợ chồng a phủ * Nhân vật Mị trước khi trở thành con dâu gạt nợ: - Là cô gái người Mông trẻ trung, hồn nhiên, yêu đời, có tài thổi sáo và được rất nhiều chàng trai theo đuổi. - Mị đã từng yêu, luôn mong muốn khao khát đi theo tiếng gọi của tình yêu. Dàn ý phân tích Chị em Thúy Kiều. I. Mở bài - Giới thiệu những nét khái quát cơ bản về tác giả Nguyễn Du: một đại thi hào lớn không chỉ của dân tộc Việt Nam mà còn của toàn thế giới, đại thi hào đã để lại những tác phẩm văn chương nghệ thuật độc đáo cho đời Phân tích bài thơ Thương vợ (số 2) Trần Tế Xương (bút danh là Tú Xương) là nhà thơ trào phúng nổi tiếng, có lẽ là nhà thơ trào phúng đặc sắc nhất trong nền văn học của nước nhà. + giới thiệu những nét chung về thơ + dẫn dắt ý của Xuân Diệu : '' thơ là hiện bmWri. Tài liệu phân tích bài thơ Thương vợ do Đọc Tài Liệu tổng hợp và biên soạn gồm hướng dẫn chi tiết cách làm, lập dàn ý và giới thiệu một số bài văn mẫu hay phân tích nội dung, nghệ thuật của bài thơ Thương vợ Tú Xương.Hướng dẫn phân tích bài thơ Thương vợĐề bài Phân tích bài thơ "Thương vợ" của nhà thơ Tú Xương Trần Tế Xương.Tìm hiểu đề và tìm ý bài văn phân tích Thương vợ1. Phân tích đề- Yêu cầu phân tích nội dung và nghệ thuật của bài Thương Phạm vi tư liệu, dẫn chứng từ ngữ, chi tiết tiêu biểu trong bài thơ Thương vợ của Tú Phương pháp lập luận chính phân Hệ thống luận điểm- Luận điểm 1 Hình ảnh bà Tú 6 câu đầu+ Sự vất vả gian truân buôn bán ngược xuôi của bà Tú+ Đức tính cao đẹp của bà Tú đảm đang, tần tảo, chịu thương chịu khó, thầm lặng hi sinh cho hạnh phúc gia Luận điểm 2 Nỗi lòng thương vợ của ông Tú. 2 câu kếtLập dàn ý chi tiết phân tích bài thơ Thương vợMở bài phân tích Thương vợ- Giới thiệu vài nét về tác giả Tú Xương 1870 – 1907 một trong những tác giả có cách viết trào phúng, hài hước, mang tư tưởng li tâm Nho Khái quát về bài thơ Thương vợ - một trong số những bài thơ hay và cảm động nhất của Tú Xương viết về bà bài phân tích Thương vợ* Phân tích 2 câu đềQuanh năm buôn bán ở mom sôngNuôi đủ năm con với một Hoàn cảnh buôn bán làm ăn của bà Tú+ Thời gian “quanh năm” làm việc liên tục, không trừ ngày nào, hết năm này qua năm khác dù mưa hay nắng.+ Địa điểm “mom sông” phần đất nhô ra phía lòng sông không ổn định -> gợi tả một cuộc đời nhiều mưa nắng, một cuộc đời lắm cơ cực, gian nan, chênh vênh, nguy hiểm, phải vật lộn để kiếm sống.=> Công việc và hoàn cảnh làm ăn vất vả, ngược xuôi, không vững vàng, ổn Lí do+ “nuôi đủ” chăm sóc hoàn toàn -> sự chịu thương chịu khó của bà Tú, phải vất vả cực nhọc, làm lụng gánh vác, tất bật ngược xuôi chỉ để nuôi đủ "năm con với một chồng".+ “đủ năm con với một chồng” một mình bà Tú phải nuôi cả gia đình, không thiếu cũng không Cách dùng số đếm độc đáo “một chồng” bằng cả “năm con”, ông Tú nhận mình cũng là đứa con đặc biệt. Kết hợp với cách ngắt nhịp 4/3 thể hiện nỗi cực nhọc của vợ.=> Hoàn cảnh éo le trái ngang, gánh nặng gia đình đang đè nặng lên đôi vai người mẹ, người vợ. Bản thân việc nuôi con là người bình thường, nhưng ngoài ra người phụ nữ còn nuôi chồng.=> Bà Tú là người phụ nữ tần tảo, đảm đang, chu đáo với chồng con.* Phân tích 2 câu thựcLặn lội thân cò khi quãng vắngEo sèo mặt nước buổi đò Tú Xương đã mượn hình ảnh con cò trong ca dao để nói về bà Tú nhưng sáng tạo hơn nhiều đảo từ lặn lội lên đầu hay thay thế con cò bằng thân cò+ “Lặn lội” Sự lam lũ, cực nhọc, nỗi gian truân, lo lắng+ Hình ảnh “thân cò” gợi nỗi vất vả, đơn chiếc khi làm ăn -> gợi tả nỗi đau thân phận và mang tính khái quát+ “khi quãng vắng” thời gian, không gian heo hút rợn ngợp, chứa đầy những nguy hiểm lo âu=> Sự vất vả gian truân của bà Tú càng được nhấn mạnh thông qua nghệ thuật ẩn Sự vật lộn với cuộc sống đầy gian nan của bà Tú “Eo sèo mặt nước buổi đò đông”+ Eo sèo từ láy tượng thanh ý chỉ sự kì kèo, kêu ca phàn nàn một cách khó chịu -> gợi tả cảnh tranh bán, cãi vã nơi “mặt nước”.+ Buổi đò đông Sự chen lấn, xô đẩy trong hoàn cảnh đông đúc cũng chứa đầy những sự nguy hiểm, lo âu-> Câu thơ gợi tả cảnh chen chúc, bươn trải trên sông nước của những người làm nghề buôn bán nhỏ.=> Thực cảnh mưu sinh của bà Tú không gian, thời gian rợn ngợp, nguy hiểm, phải lặn lội trong nắng mưa, phải giành giật, phải trả giá bằng mồ hôi, nước mắt, đồng thời thể hiện lòng xót thương da diết của ông Tú.* Phân tích 2 câu luậnMột duyên hai nợ âu đành phậnNăm nắng mười mưa dám quản “Một duyên hai nợ” ý thức được việc lấy chồng là duyên nợ nên “âu đành phận”, Tú Xương cũng tự ý thức được mình là “nợ” mà bà Tú phải gánh chịu, không một lời phàn nàn, lặng lẽ chấp nhận sự vất vả vì chồng vì “nắng mưa” chỉ sự vất vả- “năm”, “mười” số từ phiếm chỉ số nhiều- "âu đành phận", “dám quản công” dù cho phận mỏng duyên ôi, bà Tú vẫn chấp nhận, cam chịu, không lời oán Sự vất vả và gian truân, đức tính chịu thương chịu khó, hết lòng vì chồng vì con của bà Tú.=> Hình ảnh bà Tú, người vợ hiền thảo với bao đức tính đáng quý đảm đang, tần tảo, chịu thương chịu khó, thầm lăng hi sinh cho hạnh phúc gia đình.* Phân tích 2 câu kếtCha mẹ thói đời ăn ở bạcCó chồng hờ hững cũng như không- Bất mãn trước hiện thực, Tú Xương đã vì vợ mà lên tiếng chửi+ “Cha mẹ thói đời ăn ở bạc” tố cáo hiện thực, xã hội quá bất công với người phụ nữ, quá bó buộc họ để những người phụ nữ phải chịu nhiều cay đắng vất Lời chửi mang ý nghĩa xã hội sâu sắc thói đời bạc bẽo là nguyên nhân sâu xa khiến bà Tú phải khổ; ông Tú thầm trách bản thân một cách thẳng thắn, nhận ra sự vô dụng của bản Tự ý thức+ “Có chồng hờ hững” Tú Xương tự rủa mát mình và cũng là tự phán xét, tự lên án bản thân mình-> Tú Xương ý thức sự hờ hững của mình cũng là một biểu hiện của thói Nhận mình có khiếm khuyết, phải ăn bám vợ, để vợ phải nuôi con và Từ tấm lòng thương vợ đến thái độ đối với xã hội, Tú Xương cũng chửi cả thói đời đen bạc.=> Hai câu thơ đã khái quát nỗi lòng thương vợ của ông bài phân tích Thương vợ- Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ+ Nội dung Xây dựng thành công hình ảnh bà Tú - một người vợ tảo tần, giàu đức hi sinh, đã gánh vác gia đình với những gánh nặng cơm áo gạo tiền đè lên đôi vai gầy. Qua đó cũng cảm nhận được tình thương yêu, quý trọng người vợ của Trần Tế Xương.+ Nghệ thuật Sử dụng tiếng Việt giản dị, tự nhiên, giàu sức biểu cảm; vận dụng sáng tạo hình ảnh, cách nói văn học dân gian; kết hợp nhuần nhuyễn giữa trữ tình và trào Liên hệ, mở rộng Suy nghĩ của bản thân về người phụ nữ trong xã hội hôm thêm Sơ đồ tư duy Thương vợ Dưới đây là 3 bài văn mẫu hay phân tích bài Thương vợ được Đọc tài liệu tuyển chọn gửi đến các em tham khảo để mở rộng vốn từ ngữ cũng như cách trình bày cho bài viết của mình thêm hay và hấp 3 bài văn mẫu hay phân tích bài Thương vợ của Tú XươngPhân tích Thương vợ ngắn gọn bài số 1Thương Vợ khắc họa hình ảnh của bà Tú tảo tần, chịu thương chịu khóTú Xương là một trong những nhà thơ có cảm quan nhạy cảm trước sự đổi thay của nhân tình thế thái. Xã hội thời Tú Xương sống là xã hội đang bị đảo lộn về tất cả ngay cả giá trị thiêng liêng nhất là tình thương cũng bị mai một, tình người với người chỉ còn là thứ tình cảm hời hợt bán mua, đổi chác quá ư dễ dàng. Giữa xã hội nhố nhăng ấy, nhà thơ tự giữ lại cho mình tình cảm cao quý nhất là tình yêu đối với người vợ. Thương vợ là bài thơ hay ghi lại tình yêu chân thành của nhà thơ dành cho người vợ vừa có sự cảm thông, chia sẻ và biết ơn vừa là lời tự than, tự trách bản thân về trách nhiệm của người năm buôn bán ở mom sông…Có chồng hờ hững cũng như Xương ngay mở đầu đã tỏ ra là người chồng biết quan tâm đến vợ, am hiểu công việc làm ăn của vợQuanh năm buôn bán ở mom sôngNuôi đủ năm con với một Tú buôn bán ấy là công việc chính bà làm để nuôi chồng nuôi con. Quanh năm chứ đâu phải là ngày một ngày hai bà tiến hành việc buôn bán mà là quanh năm suốt tháng, liên tục, không ngừng nghỉ. Nỗi vất vả của bà Tú kéo dài theo năm tháng. Mom sông là không gian làm ăn của bà. Đó là chỗ đất nhô ra ở bờ sông Vị Hoàng chảy qua thành phố Nam Định, một thế đất rất chênh vênh, cheo leo, không vững vàng, sẵn sàng đổ ụp xuống sông bất cứ lúc nào. Thế mới thấy sự nguy hiểm cho tính mạng của bà cùng nỗi vất vả, cực nhọc trong công việc làm ăn. Ở đây không gian mom sông, thời gian quanh năm tô đậm hơn hình ảnh của bà Tú tảo tần, ngược xuôi. Đó là người phụ nữ của bao đời và đến bà Tú càng rõ nét thơ sau nâng vị thế của bà trở thành người trụ cột của gia đình, còn ông chồng bị hạ xuống hạng ăn bám, là gánh nặng cho vợ. Nuôi đủ năm con với một chồng. Cách đếm năm con với một chồng thật đặc biệt. Nhà thơ đặt ông chồng như những đứa con cũng phải nuôi tựa như ông bé bỏng như con nên phải đếm ngang một miệng ăn, hai miệng ăn. Từ đủ làm toát lên mức độ của việc nuôi nấng ấy. Bà nuôi ông không chỉ cơm no, áo đủ mặc mà còn phải có ít rượu cho ông ngân nga, bộ áo mới cho ông vui vẻ cùng bè bạn. Bà Tú lo tất, bà vừa nuôi, vừa cung phụng cho ông. Gánh nặng chồng con đè nặng lên đôi vai bà Tú. Người phụ nữ như địa vị của bà chỉ làm việc nâng khăn sửa túi cho chồng, việc làm ăn để chồng lo, vậy mà bà phải bứt ra khỏi cảnh sống êm ả bước vào dòng đời xô bồ để lo cơm áo cho sáu miệng ăn, làm thay việc của chồng đủ thấy bà đã hi sinh tất cả vì chồng con. Thấu hiểu hoàn cảnh của vợ, đánh giá xứng đáng công lao của vợ chứng tỏ nhà thơ yêu vợ, thương vợ tha thiết câu thực tiếp tục mạch cảm xúc cảm thông, chia sẻLặn lội thân cò khi quãng vắngEo sèo mặt nước buổi đò đôngCông việc của bà đến đây hiện lên thật rõ nét cụ thể. Bà Tú lặn lội ngược xuôi lúc một mình vượt đường xa, quãng vắng, lúc cãi và giành giật ngay trên sông với những chuyến đò đông khách qua. Sự vất vả, cực nhọc của bà là vậy. Lặn lội, eo sèo thể hiện tính chất gay go của cuộc mua bán. Thương trường là chiến trường, đâu dễ nhường nhịn cho nhau miếng ăn, té ra bà Tú cũng va chạm lời qua tiếng lại gây cảnh eo sèo nhốn nháo trên sông. Câu thơ gợi ta nhớ đến thân phận của người phụ nữ xưa qua câu caCái cò lặn lội bờ sôngGánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ cò xưa và thân cò dường như có sự đồng dạng. Hình ảnh so sánh độc đáo đó càng làm cho tình cảnh bà Tú thêm tội nghiệp đáng thương. Bà Tú có khác gì dáng cò đâu, gầy lêu khêu, bước lững thững, một thân một mình, lếch thếch, lủi thủi. Đối lập cái đơn độc, lẻ loi của bà với vẻ quạnh hiu khi quãng vắng và vẻ tấp nập, đông đúc của buổi đò đông, nhà thơ cực tả những cực nhọc, gian lao của bà để duy trì sự sống cho chồng, con. Ông Tú thấu hiểu điều ấy. Và ông đâu có dửng dưng. Đằng sau từng câu chữ là nỗi niềm chất chứa tâm can. Ông cảm phục vì sức dẻo dai quanh năm làm việc của bà, ca ngợi bà vì bà hết lòng vì chồng con, nhưng một nỗi xót xa, hổ thẹn ngự trị trong lòng ông Tự trách mình chưa làm tròn trách nhiệm của người chồng. Bà Tú biết được tâm sự như thế của ông chắc gánh nặng sẽ vơi đi chút nào và trong tâm chắc cũng được an ủi, động nhọc, gian nan là vậy nhưng bà Tú không một lời than vãn. Ngày tháng, công việc cứ trôi qua im lặng như chính cuộc đời bàMột duyên hai nợ âu đành phậnNăm nắng mười mưa dám quản thơ như lời nói rất tự nhiên, đa thanh, có thể coi là lời của ông hoặc bà đều được. Nhưng xưa nay bà có than thân bao giờ, bà chấp nhận tất cả, giấu kín lòng mình với bao nỗi xót xa tủi cực. Ông Tú vì tấm lòng thương vợ cất lên lời nói thay cho bà. Dùng lối nói dân gian vợ chồng là duyên là nợ. Tú Xương vận rất đúng để nói về bà Tú, cuộc đời bà như vậy vừa là duyên, vừa là nợ, duyên một thì nợ hai, hạnh phúc do duyên mang lại ít, cực nhọc do nợ là phần nhiều, số phận là thế thì đành chấp nhận. Dám quản công tức không dám nề hà, không dám kể công dù có vất vả sương gió nhiều, năm nắng mười mưa. Đã vận vào cái số phận làm sao thoát ra, câu thơ kết thúc bằng thanh trắc âu đành phận cùng khiến cho cảm xúc bị dồn nén nhiều hơn. Hẳn bà Tú không ít lần bực mình, thấy đời sao quá bất công, muốn phản kháng nhưng bà đã dằn lòng an phận, chấp nhận im lặng đến nhẫn nhuc, cam chịu. Nước mắt bà chảy ngược vào trong, bà giữ chặt lòng mình, không muốn cho ai biết nỗi khổ tâm, đau xót ấy. Các số đếm một, hai, năm, mười cùng nhịp thơ ngắn 2/2/3 thể hiện tâm trạng tức tưởi, lắng sâu và kéo dài cuộc đời bà gắn với công việc không bao giờ ngừng nghỉ. Đến đây, Tú Xương nhập hẳn mình vào vợ để lắng nghe từng nỗi niềm u uẩn của bà. Ẩn đằng sau ấy là bao nỗi niềm của ông, một người chồng khổ tâm để vợ xuôi ngược mà không giúp được gì? Câu thơ toát lên ý thương vợ, tự trách rất sâu câu cuối, tình cảm như được bộc phát mạnh mẽ, không phải lời tâm tình nhẹ nhàng như trước mà là tiếng chửi độcCha mẹ thói đời ăn ở bạcCó chồng hờ hững cũng như chửi không phải của bà Tú vì bà chấp nhận, cam chịu suốt đời, ông Tú mong bà chửi để gánh nặng lòng ông được vơi bớt, chí ít vì bà coi ông khác lũ con. Sự dồn nén, bức bối buộc ông mượn lời bà để tự chửi mình. Một đấng chồng mà chỉ ngồi ăn bám, vô lo, có khi hạch sách, lên mặt, nhìn vợ tất tả ngược xuôi vất vả còn xứng là chồng không? Ông tự kết án mình đã ăn ở bạc bẽo, lạnh lùng, thờ ơ, vô trách nhiệm... Sự hờ hững ấy của ông khiến cho bà càng đau khổ hơn gấp ngàn lần. Gánh nặng vật chất dù chồng chất đến mấy bà Tú cũng cố chèo lái lo toan, chịu được nhưng bị hờ hững, bị đối xử tệ bạc, không được sẻ chia sẻ làm cho bà gục ngã ngay. Một ông chồng như thế bà đâu cần, có cũng như không. Lấy bản thân mình, nhà thơ khái quát hiện tượng trên thành thói đời nghĩa là nó rất phổ biến, thường diễn ra. Đó chính là đặc trưng của xã hội đồng tiền buổi giao thời mà nhà thơ sống. Ý nghĩa tố cáo của câu thơ là vạch rõ bản chất xấu xa của xã hội coi nhẹ tình cảm, trọng sĩ diện, danh vọng, tiền tài. Câu thơ khép lại bằng từ không tưởng nhẹ nhàng mà hướng người đọc đến chiều sâu tâm trạng chất chứa nỗi chua xót, tự giận của chồng và niềm đau khổ của người thơ Thương vợ là tiếng lòng chân thành vừa ngợi ca, cảm phục, chia sẻ, cảm thông trước vất vả, gian nan của bà Tú vừa là lời tự trách, tự lên án của ông Tú. Phải yêu vợ, thương vợ đến mức sâu sắc nhà thơ mới viết nên bài thơ giàu cảm xúc, chân thực như vậy. Chất trữ tình và trào phúng quyện hòa trong nhau đưa người đọc đến những cung bậc tình cảm rất sâu sắc bình dị, đáng trân trọng, ẩn chứa trong lòng nhà thơ vốn căm ghét thế thái nhân tình đổi thay. Tú Xương qua bài thơ gửi đến những người chồng bức thông điệp hãy nói lời yêu thương chia sẻ thật nhiều với người tích Thương vợ nâng cao bài số 2"Thương vợ" thể hiện tình thương yêu, quý trọng và biết ơn của Tú Xương với vợ mìnhThơ văn Trần Tế Xương gồm hai mảng lớn trào phúng và trữ tình. Có bài hoàn toàn là đả kích, châm biếm, có bài thuần là trữ tình. Tuy vậy, hai mảng không tuyệt đối ngăn cách. Thường là châm biếm sâu sắc nhưng vẫn có chất trữ tình. Ngược lại, trữ tình thấm thía cũng pha chút cười cợt theo thói quen trào phúng. Thương vợ là một bài thơ như vậy. Thương vợ là bài thơ phản ánh hình ảnh bà Tú vất vả, đảm đang, lặng lẽ hi sinh vì chồng vì con, đồng thời thể hiện tình thương yêu, quý trọng và biết ơn của Tú Xương đối với người vợ của năm buôn bán ở mom sông,Nuôi đủ năm con với một bằng vài lời kể nôm na, bình dị, Tú Xương đã giúp người đọc hình dung ra cảnh bà Tú một mình mang trên vai gánh nặng gia đình, lặn lội nơi đầu sông, bến sông là mỏm đất nhô ra dòng sông, cũng là một địa điểm ở phía Bắc thành phố Nam Định. Ngày xưa, đây là nơi trên bến dưới thuyền, người từ các nơi đổ về buôn bán. Quanh năm, bà Tú làm ăn ở đó để kiếm tiền trang trải cho cuộc sống gia đình gồm hai vợ chồng và năm đứa con năm buôn bán có nghĩa là không nghỉ ngơi ngày nào. Hơn nữa, chữ mom sông càng tô đậm thêm cái thế chênh vênh, không vững vàng của công việc làm ăn. Mom sông ba bề là nước, có thể đổ ùm xuống sông lúc nào không biết. Ở cái mỏm đất chênh vênh ấy, hình ảnh bà Tú dường như càng nhỏ bé và cô đơn. Một mình bà phải xông pha nơi đầu sông ngọn nguồn, vất vả tội nghiệp biết bao! Trên đây là thời gian, không gian và cả tính chất công việc làm ăn buôn bán của bà sao bà Tú lại chấp nhận sự lam lũ, vất vả như thế? Đương nhiên là để nuôi chồng, nuôi con. Ngày xưa, xã hội phong kiến dành cho phụ nữ bổn phận là thờ chồng, nuôi con. Với bà Tú, chắc chắn là có chuyện thờ chồng. Thờ chồng bao hàm cả nghĩa vụ nuôi chồng. Đó là sự bất công của xã hội, nhưng xét về mặt đức độ thì sức đảm đang tháo vát của những người vợ như bà Tú thật đáng nể không bình thường trong bài thơ là cách đếm số người. Giá như tính gộp lại là sáu miệng ăn và một mình bà Tú mà phải cáng đáng đến chừng ấy cũng đã là nhiều. Trên đời, phần lớn phụ nữ cũng gặp cảnh như thế. Đằng này, tác giả đếm rõ ràng là năm con với một chồng. Đặc biệt là tách riêng ông chồng ra và đếm là một. Xuân Diệu có nhận xét rất hay khi đọc câu thơ này "Hoá ra ông chồng cũng phải nuôi, tựa hồ như lũ con bé bỏng nên mới đếm ngang hàng với chúng nó một miệng ăn, hai miệng ăn...".Mà bà Tú nuôi chồng đâu có đơn giản như nuôi con. Cơm ăn đã đành, đôi khi phải có tí rượu tí trà cho ông ngâm nga câu thơ câu phú. Áo mặc đã đành, còn phải có bộ cánh tử tế cho ông đi đây đi đó, chứ ai lại để cho ông quanh năm "Bức sốt nhưng mình vẫn áo bông" và "Một đoàn rách rưới con như bố". Lại phải cho ông xỏng xảnh ít tiền trong túi để gặp bạn, gặp bè. Ấy thế mà bà nuôi đủ, tức là đủ cả về số lượng lẫn chất lượng. Như vậy là bà Tú không chỉ nuôi ông Tú mà còn cung phụng, còn kể ra được những điều ấy chứng tỏ là ông chồng thấu hiểu và biết đánh giá một cách xứng đáng công lao của bà vợ. Như vậy là thương câu thứ ba, hình ảnh bà Tú một mình thui thủi làm ăn càng hiện lên cụ thể và rõ nét hơnLặn lội thân cò khi quãng vắng,Eo sèo mặt nước buổi đò Xương dùng một hình tượng quen thuộc trong văn chương dân gian nói về người phụ nữ lao động ngày xưa Con cò lặn lội bờ sông... nhưng ông không so sánh mà đồng nhất thân phận bà Tú với thân cò. Tấm thân mảnh dẻ, yếu đuối của bà Tú mà phải chịu dãi nắng dầm sương thì đã là gian nan, tội nghiệp, vậy mà bà còn phải lặn lội sớm trưa. Nghĩa đen của từ này cũng gợi ra đầy đủ cái vất vả, khó nhọc trong nghĩa bóng. Tấm thân cò ấy lại lặn lội trên quãng vắng đường xa. Nói quãng vắng là tự nhiên nổi lên cái lẻ loi, hiu quạnh, lúc cần không biết nương tựa vào đâu, chưa nói đến những hiểm nguy bất trắc đối với thân gái dặm trường. Eo sèo chi sự nói đi nói lại, có ý bất bình. Đò đông có thể hiểu hai cách một là đò ngang đã chở đầy người, hai là đò từ các nơi tập hợp lại rất đông. Hiểu cách nào cũng đúng với ý định đặc tả nỗi khó nhọc, gian nan trong cảnh kiếm ăn của bà cạnh nỗi khổ vật chất còn có nỗi khổ tinh thần. Vì chồng con mà phải lặn lội đường xa quãng vắng, nhưng liệu chồng con có biết cho chăng? Và bà Tú cứ âm thầm lo toan như vậy cho đến hết đời, hết kiếp... số phận bà là vậy. Câu thơ miêu tả mà đầy chất trữ tình, nghe thật xót xa, tội nghiệp! Ông Tú tỏ ra thông cảm với nỗi khó nhọc của vợ và thương vợ đến vậy là sâu Tú hiểu thấu công việc làm ăn của bà Tú. Khi quãng vắng, buổi đò đông, bà đều vất vả khó nhọc, không kể gian nan, không quản thân mình, một lòng vì chồng, vì con. Bà Tú mà nghe được những lời như thế của ông chắc cũng thấy gánh nặng trên vai mình nhẹ bớt và trong thâm tâm bà cũng được an ủi ít không phải chỉ có thế, giọng điệu trữ tình kín đáo lồng trong hai câu tường thuật miêu tả câu 3, 4 chứng tỏ tim ông Tú không phải dửng dưng. Thương vợ nhưng cũng là tự trách mình. Không phải chỉ tự coi mình là một miệng ăn để vợ phải nuôi mà còn hổ thẹn, thấy mình có cái gì đó như nhẫn tâm. Ông chồng trụ cột gia đình là mình ở đâu rồi mà để vợ phải nhọc nhằn, gian nan đến vậy? Tự trách mình như thế cũng là thương vợ thêm duyên hai nợ âu đành phận,Năm nắng mười mưa dám quản Xương lại vận dụng thêm một thành ngữ, một câu ca dân gian khác Vợ chồng là duyên là nợ, Một duyên hai nợ ba tình... Vợ chồng gặp nhau là do ông Tơ bà Nguyệt sắp đặt từ kiếp trước. Có duyên thì tốt đẹp, hạnh phúc, là nợ thì đau khổ một lẽ ở đây, ông Tú mượn tâm tư bà Tú mà suy ngẫm hay đúng ra, ông hoá thân vào bà để cảm thông sâu sắc hơn lấy chồng như thế này thì cũng là duyên hoặc nợ thôi, số phận đã thế thì cũng đành thế. Cho nên có khổ cực bao nhiêu, năm nắng mười mưa cũng phải chịu, phải lo, nào dám quản công. Chẳng còn là chuyện thân nữa, dù là thân cò, mà đã là chuyện phận rồi, chuyện số Lấy vợ lấy chồng, người ta bảo là duyên là nợ, nghĩ cũng đúng thật! Số phận đã như thế thì cũng đành thôi, chứ biết làm thế nào?! Cái số kiếp người phụ nữ như tấm lụa đào, như hạt mưa sa, như con thuyền lênh đênh mười hai bến nước, như cơm nguội đỡ khi đói lòng... Trách làm sao được! Vậy thì còn dám kể gì gian lao, dám quản gì mưa nắng!Lại thêm nghĩa của mấy nhóm từ âu đành, dám quản. Âu đành là một sự bất đắc dĩ, xếp lại, nén xuống những gì bất bình, tủi nhục... Dám quản tức là không dám kể gì đến công lao, là thái độ chấp nhận gánh chịu mọi sự nhọc nhằn. Thêm âm thanh nặng nề của từ phận ở cuối câu khép lại càng làm cho câu thơ phù hợp với cảm xúc bị dồn nén vào là chỉ bốn câu thơ mà chân dung bà Tú hiện lên hoàn chỉnh từ vất vả bon chen, lăn lộn ở ngoài đời, đến năm liệu bảy lo trong gia đình, từ con người của công việc làm ăn, đảm đang tháo vát, chịu thương chịu khó, đến con người của đức độ, thảo hiền, đầy tinh thần vị tha. Hình ảnh bà Tú tiêu biểu cho phẩm chất tốt đẹp của những người vợ, người mẹ Việt Nam.» Có thể bạn muốn xem Phân tích hình ảnh bà Tú trong bài Thương vợ để hiểu rõ hơn những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam thời vợ mà nói ra là mình thương thì cũng đã quý. Ở đây, ông Tú đã nhập thân vào bà Tú để thấu hiểu nỗi niềm và thể hiện tình cảm của mình bằng những lời thơ chân thành, thấm thía. Như vậy mà không phải là thương vợ sâu sắc hay sao?Đó là thương vợ, còn tự trách mình? Ngày ngày ngồi không, làm một miệng ăn cho vợ nuôi, điềm nhiên hưởng thụ trong khi vợ phải ngược xuôi tần tảo, nghe cũng đã có cái gì đó bất nhẫn. Nay vợ thầm oán trách, tủi hờn mà quy số phận bất hạnh ấy là do một duyên hai nợ, thử hỏi ông chồng làm sao mà không nhận thấy lỗi của mình? Tự trách đến như vậy là ngoài tình thương vợ đã có thêm ý thức trách mẹ thói đời ăn ở bạc,Có chồng hờ hững cũng như kết là một tiếng chửi đổng cái thói đời ăn ở bạc. Không phải lần này ông Tú mới chửi như thế. Trong bài Gặp người ăn xin, ông cũng đã từng chửi - chửi mình mà thực ra là chửi đời Người đói, ta đây cũng chẳng no,/ Cha thằng nào có, tiếc không cho. Chỉ khác ở chỗ là lần này, lời chửi tuy có ném thẳng vào đời, nhưng trước hết là ném vào mình. Để tự trách mình thì ông phải chửi. Mà ông phải đặt câu chửi ấy vào miệng bà Tú thì mới đích đáng! Nhưng bà Tú vốn con gái nhà dòng, chẳng đời nào lại chanh chua, thô tục dám chửi chồng. Nhưng đối với ông Tú thì tự trách đến mức phải bật ra tiếng chửi như thế là giận mình thật sự. Bài thơ ông viết ra cốt để bày tỏ tình thương yêu, quý trọng người vợ đảm đang và tự trách mình là đồ tầm thường, vô tích Tú vất vả đến thế, ông Tú tự trách mình đến thế thì đương nhiên là phải bực bội đến bật ra tiếng chửi. Nhận lỗi chưa đủ, nguyền rủa mình bằng câu chửi đổng mới xứng với tội lỗi, ông Tú lại chẳng dè dặt gì với chữ nghĩa mà dùng luôn cách chửi dân gian Cha mẹ thói Tú không hề coi chồng là ăn ở bạc, nhưng ông Tú thì gọi đích danh tội lỗi của mình ra như vậy, vợ chồng với nhau mà như thế thì còn gì mà không ông Tú lại không nói trực tiếp là mình ăn ở bạc mà khái quát nó lên thành thói đời. Thói đời đen bạc tượng trưng cho bản chất của xã hội kim tiền dưới thời thực dân phong kiến, ở thành thị điều đó càng tệ hại hơn. Hoá ra đệ tử của thánh hiền là ông Tú mà cũng bị nhiễm cái thói đời xấu xa ấy. Như vậy là từ hổ thẹn, ông Tú đã đi tới chỗ xót xa, tự kết là sự phán xét vô cùng đau đớn nhưng cũng rất công minh, ông Tú xỉ vả mình là ăn ở bạc, nhưng xét ra cái bạc ấy cũng chỉ mới ở mức hờ hững. Hờ hững trước việc nhà, trước mọi lo toan, vất vả, trước thái độ cam phận của vợ. Đã là vợ chồng, trăm sự cùng lo mới phải. Bà Tú không bắt buộc ông vất vả như bà mà chỉ mong ông đừng hờ hững, ông hãy quan tâm lo cho gia đình chút ít, trước hết là ông hiểu cho bà, như thế cũng đủ cho bà ấm lòng và có niềm bài thơ cô đúc lại ở ý này ở câu đề, ông chồng có mặt với tư cách là một miệng ăn phải nuôi, ở câu thực, câu luận, ông chồng vắng bóng. Bài thơ chấm dứt bằng sự day dứt, ân hận trong câu kết Có chồng hờ hững cũng như không, càng làm tăng thêm nỗi thương vợ của nhà thơ. Đó là cách nói của Tú Xương, đã nói gì là nói ráo riết đến tận cùng. Tuy nhiên, có điều này ông đã nói oan cho mình đó là hai chữ hờ hững. Vì giận mình mà ông nói thế thôi, chứ thực lòng ông đâu có hờ hững với bà. Bởi nếu ông hờ hững thì đã không có bài Thương vợ thấm thía và cảm động đến như khảo thêm Hướng dẫn soạn bài Thương vợ Tú XươngHình ảnh bà Tú vất vả, đảm đang, lặng lẽ hi sinh vì chồng vì conPhân tích Thương vợ nâng cao bài số 3“Thân em như của ấu trong thì trắng vỏ ngoài thì đen,Ai ơi nếm thử mà ra mới biết rằng em ngọt bùi,”Ca daoHình ảnh của người phụ nữ luôn là đề tài muôn thuở cho nền văn chương kim cổ Việt Nam. Tuy nhiên, thơ văn viết về người vợ bằng tình cảm của một người chồng đã ít nay lại viết về người vợ đang sống lại còn hiếm hoi hơn. Và Trần Tế Xương là một trong những bậc thức giả hiếm hoi của nền thơ ca trung đại Việt Nam đã đưa hình ảnh người vợ tần tảo của mình ngay khi bà vẫn còn là một đóa hoa tươi tắn trên đường đời vào những dòng thơ trữ tình nhưng cũng không kém phần trào phúng làm bật lên được đức hi sinh đảm đang, tấm lòng tháo vát chịu thương chịu khó của người bạn đời, bà Tú, qua đó cũng thể hiện tấm lòng tri ân đến người vợ của mình “Quanh năm buôn bán ở mom sông,Nuôi đủ năm con với một lội thân cò khi quãng vắngEo sèo mặt nước buổi đò duyên hai nợ âu đành phận,Năm nắng mười mưa dám quản mẹ thói đời ăn ở bạc,Có chồng hờ hững cũng như không.”Trần Tế Xương, thường gọi là Tú Xương, sống trong buổi giao thời đầy nghèo khổ nửa thực dân Pháp - nửa phong kiến. Ông là người thông minh, ham học, hào hoa, phóng túng, có tài làm thơ hay nhưng lại lận đận trên con đường thi sử và nổi tiếng chủ yếu ở hai mảng thơ trào phúng và trữ tình có pha chút giọng cười châm biếm sắc xảo bắt nguồn từ tâm huyết với dân, với nước, với đời. Ông từng được mệnh danh là nhà thơ trào phúng xuất sắc của văn học Việt Nam giai đoạn cuối thế kỉ tàng thơ văn của Tú Xương tuy không nhiều chỉ với 100 bài, chủ yếu là thơ Nôm, gồm nhiều thể thơ như thất ngôn bát cú đường luật, lục bát,… và một số bài văn tế, phú, câu đối… nhưng có nhiều bài rất đặc sắc, đạt đến trình độ tuyệt mĩ về cả nội dung và nghệ thuật và được xem như những bài thơ bất tử. Minh chứng rõ ràng nhất đó là thi phẩm “Thương vợ” được viết bằng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Bài thơ đề cập đến nhiều khía cạnh trong xã hội, đồng thời cũng là tiếng lòng tha thiết, sự tri ân đầy xót xa của Tú Xương - nạn nhân của xã hội lố lăng, đảo điên biến con người trở thành vô tích sự với chính mình và gia đình, đối với bà Tú, qua đó, người đọc cũng phần nào thấy được những đức hi sinh to lớn của những người phụ nữ lúc bấy giờ hay của bà Tú đối với người chồng của đầu tác phẩm, Tú Xương giới thiệu về hoàn cảnh và công việc mưu sinh của bà Tú, qua đó bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với người vợ tảo tần sớm mai của mình“Quanh năm buôn bán ở mom sông,Nuôi đủ năm con với một chồng.”Mạch cảm xúc của thi phẩm dần dần mở ra với bức tranh toàn cảnh đầy nỗi khó nhọc, lo toan của bà Tú – tên thật là Phạm Thị Mẫn. Tác giả đã sử dụng “Quanh năm” - cụm từ chỉ một khoảng thời gian trường kì lặp đi lặp lại như một vòng tuần hoàn khép kín của tự nhiên để cực tả nỗi vất vả triền miên của bà Tú trải dài hết ngày tháng này sang ngày tháng khác, năm này qua năm nọ mặc cho nắng gắt hay mưa rào vẫn không bỏ sót giây phút nào cả. Chỉ có thế thôi cũng đủ để lại trong lòng độc giả một ấn tượng khó phai về hình ảnh người vợ đầu tắt mặt tối chu toàn mọi sự trong gia đình như bà Tú. Chưa dừng lại ở đó, cách cân đo, đong đếm như thế của thời gian còn góp phần làm bật lên cái không gian, địa điểm bán buôn của bà Tú thông qua hình ảnh “mom sông”. Địa thế “mom sông” rất trắc trở, đầy rẫy những hiểm nguy khôn lường bởi lẽ đó chỉ là một doi đất nhô ra phía lòng sông nơi người làng chài thường tụ tập buôn bán nên những khi tiết trời khắc nghiệt, địa thế chênh vênh mỏng manh kia sẽ dễ sạt lở gây nhiều khó khăn cho bà Tú. Khó khăn là thế, gian nan là vậy nhưng bà Tú vẫn mạnh mẽ vượt qua, luôn luôn cố gắng để cho gia đình được ấm no“Nuôi đủ năm con với một chồng.”Với giọng thơ hóm hỉnh cùng tài năng trong nghệ thuật thơ trào phúng, câu thơ thứ hai như lời lên án gay gắt xã hội phong kiến xưa đã biến những người đàn ông vốn là những trụ cột vững chắc trong gia đình thành những kẻ vô tích sự chỉ biết sống dựa vào vợ, mà đặc biệt là “ăn lương vợ"“Trống hầu chưa dứt bố lên thang,Hỏi ra quan ấy ăn lương vợ.”Quan tại gia – Trần Tế XươngĐôi vai của bà Tú đã nặng nay còn nhân lên bội phần khi bà “bất đắc dĩ” trở thành trụ cột chính trong gia đình. Hai chữ “nuôi đủ” là vừa đủ, vừa đủ nuôi, không thiếu mà cũng không thừa vang lên tạo cho câu thơ một âm điệu trang trọng nhưng cũng không kém phần tự hào gợi tả sự đảm đang tột cùng nơi bà Tú khi chỉ với công việc buôn bán “quanh năm” ở nơi “mom sông” chênh vênh, nguy hiểm mà bà vẫn có thể đảm bảo cuộc sống vật chất và tinh thần đầy đủ cho “năm” đứa con và người chồng của mình. Bên cạnh đó, cách đặt hai danh từ số đếm “năm” và “một” song song với nhau tưởng chừng như khập khiễng nhưng lại rất độc đáo và mới lạ. Tú Xương tự chế giễu mình khi so sánh bản thân ngang hàng với “năm đứa con thơ” vì ông là một “đứa con đặc biệt” ngầm nâng cao vị thế người vợ tảo tần của mình lên một thứ bậc thiêng liêng khác như một người “mẹ hiền” để có thể đề cao công lao của bà Tú một cách chí lí và chuẩn xác nhất. Hơn thế nữa, cấu trúc “năm” - “một” cùng liên từ “với” chất chứa bao nỗi hổ thẹn, buồn bã đã khắc họa nên chiếc đòn gánh mà ở giữa là đôi vai gầy guộc, nhỏ bé của người phụ nữ chịu thương chịu khó còn hai bên đều trĩu nặng với “năm con” và “một chồng” nhưng dường như sự khó khăn lại nghiêng lệch về phía người chồng vô tích sự nhiều hơn vì chế độ “trọng nam khinh nữ” rẻ rúng trong xã hội cũ. Có thể nói, bà Tú “nuôi đủ” cho Tế Xương không chỉ chu toàn cho ông “chăn ấm, nệm êm” mà còn lo cho ông đủ thứ cao sang tốn kém khác để khiến ông phải nở mày nở mặt vì suy cho cùng, Tế Xương vẫn là một tú tài, là người có chí thi cử công danh“Biết thuốc lá, biết chè tàu,Cao lâu biết vị, hồng lâu biết mùi.”Hỏi ông trời – Trần Tế XươngHay“Hôm qua anh đến chơi đây,Giày “giôn” anh dận, “ô Tây” anh cầm.”Đi hát mất ô – Trần Tế XươngHai câu đề mở đầu thi phẩm tuy chỉ gói gọn trong mười bốn chữ nhưng đã thể hiện được tất cả những đức tính cao đẹp nơi bà Tú với sự chịu thương chịu khó, tần tảo không quản nắng mưa để chu toàn mọi việc trong gia đình. Qua đó, Tú Xương cũng khéo léo thể hiện sự biết ơn của mình đối với bà Tú, đồng thời cũng phần nào miêu tả sự hổ thẹn của tác giả khi là một đấng nam nhi mà lại không thể làm gì giúp đỡ vợ đến nỗi phải đặt mình trong mối tương quan với “năm đứa con thơ”. Thật xót xa !Thấu hiểu được những nỗi lo toan, vất vả của người vợ vĩ đại của mình, Tú Xương liên tưởng đến hình ảnh “con cò” năm xưa trong ca dao“Con cò lặn lội bờ sông,Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non.”Ca daođể cực tả nỗi khổ tâm mà bà Tú đang trải qua trong hai câu thực“Lặn lội thân cò khi quãng vắngEo sèo mặt nước buổi đò đông.”Tú Xương sử dụng “thân cò” chứ không phải “con cò” như trong ca dao xưa vừa thể hiện được cá tính riêng, sự sáng tạo mang tính chất thời đại trong phong cách thơ ca của thi sĩ, vừa đồng nhất thân phận của bà Tú nói riêng và người phụ nữ nói chung với hình ảnh gầy guộc của “con cò” để nói lên sự cơ cực trong cuộc sống của một người phụ nữ trụ cột. Tiếp đó, chữ “thân” tuy đơn giản nhưng nghe sao cay đắng quá, nó luôn gợi cho mọi người về một thứ gì đó nhỏ bé tội nghiệp đến vô cùng. Và khi xưa, nhà thơ Hồ Xuân Hương cũng đã từng ngậm ngùi trên trang giấy khi nói đến chữ “thân” bạc mệnh“Thân em vừa trắng lại vừa tròn,Bảy nổi ba chìm với nước non.”Bánh trôi nước“Khi quãng vắng” là một cụm từ rất đặc biệt vì nó không chỉ gợi lên cái không gian rợn ngợp cảm giác đơn lẻ đầy nguy hiểm rình rập nơi bờ sông heo hút, giá lạnh lúc bấy giờ mà còn diễn tả sâu sắc nỗi khắc khoải về thời gian của sự tảo tần và một khi được song hành cùng với biện pháp nghệ thuật đảo ngữ của từ láy “lặn lội”, hình ảnh giản dị, chất phác của người phụ nữ gầy guộc chân trần mưu sinh nơi rừng sông núi bãi vào ban đêm - thời gian mà những người phụ nữ khác đang hạnh phúc bên chồng con, đang tận hưởng những giấc ngủ say, hằng mong có thể kiếm thêm thu nhập để trang trải cuộc sống càng trở nên nổi bật và chói lọi hơn trong khung cảnh hiu quạnh đến ghê sợ nơi doi đất chênh như câu thơ thứ ba gợi nỗi cực nhọc đơn chiếc thì câu thơ thứ tư lại là sự vật lộn đầy cam go của bà Tú giữa thời buổi mua bán đông đúc“Eo sèo mặt nước buổi đò đông.”Một lần nữa, biện pháp nghệ thuật đảo ngữ lại được sử dụng trong lời thơ của Tú Xương nhưng với từ láy tượng thanh “eo sèo” gợi sự tấp nập, ồn ào để nhấn mạnh tính chất thường tình nơi chợ búa và sự lam lũ của người phụ nữ “năm con với một chồng”. Mặt khác, hình ảnh “buổi đò đông” cũng góp phần mạnh mẽ trong việc xây dựng hình tượng một bà Tú cần mẫn, tất bật và sự đông đúc, xô bồ đó đã từng được ca dao xưa nhắc đến“Con ơi nhớ lấy câu này,Sông sâu chớ lội, đò đầy chớ qua.”Mặc dù văng vẳng bên tai là lời dạy chân tình của cha ông ta “Sông sâu chớ lội, đò đầy chớ qua” nhưng bà Tú vẫn cứ khăng khăng dấn thân vào cuộc chiến tranh âm thầm và dai dẳng của những lần đôi co “eo sèo”, chen chúc, tranh giành khách, phân mua với các gian hàng khác, bất chấp người qua kẻ lại đếm nhiều không xuể khi “đò đông” để bươn chải miếng cơm, manh áo cho chồng, con vì chỉ khi tấp nập như thế, cơ hội kiếm thêm thu nhập sẽ tăng vọt hơn “khi quãng vắng” cho dù phải chịu cảnh đau nhức khi “đầu đội trời, chân đạp đất”, tổn thương về thể xác khi bị dòng người xô ngã. Ôi ! Quả là một người phụ nữ chan hòa tình yêu thương, bà đã đánh đổi cả bản thân mình mà chen lấn bán đi từng món hàng của mình để kiếm từng đồng tiền ít ỏi lo cho cuộc sống gia đình mình, thật đáng khâm phục !Bằng cách đảo những từ láy hô ứng vừa giàu tính tạo hình vừa giàu tính biểu cảm “lặn lội”, “eo sèo” lên ngay vị trí đầu câu thơ kết hợp với hai hình ảnh đối nhau rất chỉnh “khi quãng vắng” - “buổi đò đông” trong hai câu thực, hình tượng người vợ tháo vát vã mồ hôi chỗ đông đúc vì phải giành giật, trào nước mắt nơi quạnh hiu khi tìm được khách hàng hiện lên với tất cả niềm tự hào của nhà thơ cả về thể chất mạnh mẽ lẫn tinh thần thép của bà Tú dù trong mọi hoàn cảnh khắc khổ với những câu thơ tiếp theo, Tú Xương như nhập vai vào chủ thể trữ tình nhằm mượn lời tâm sự của vợ để ngầm ca ngợi những công lao âm thầm vì chồng vì con mà bà Tú đang gồng gánh trên vai“Một duyên hai nợ âu đành phận,Năm nắng mười mưa dám quản công.”Theo quan niệm phong kiến xưa, “duyên” và “nợ” là hai định nghĩa hết sức thiêng liêng về mối quan hệ vợ chồng do trời định sẵn, xuất phát từ số phận, từ sợi chỉ hồng của ông Tơ bà Nguyệt“Kiếp người sao mãi long đong,Ông tơ bà Nguyệt chỉ hồng se duyên”Thế nhưng khi đi vào lời thơ của một bậc thức giả dày dặn kinh nghiệm như Tú Xương, định nghĩa đó dường như đã đánh mất đi tính chất quyền quý của mình mà trở nên nặng nề vô cùng như một lời than thở khi “duyên” thì chỉ có một mà “nợ” lại hai“Chồng gì anh, vợ gì tôi,Chẳng qua là cái nợ đời chi đây”Ca daoBên cạnh đó, cách sử dụng hai thành ngữ xưa song song với nhau “Một duyên hai nợ” - “năm nắng mười mưa” vừa đối nhau về từ “một” - “hai”, “năm” - “mười”, vừa đối nhau về ý đã không những khiến cho nhạc thơ bỗng trầm lắng trước nỗi khổ tâm chồng chất ngày một dâng lên theo cấp số nhân của bà Tú mà còn thể hiện rất rõ tài năng văn chương điêu luyện của thi sĩ khi biết vận dụng triệt để giá trị của các thành ngữ cùng các con số mộc mạc để thiêng liêng hóa hình ảnh bà Tú. Có thể nói, dẫu có khó khăn muôn trùng, chông gai trước mắt, “nợ” nghiêng về mình nhưng bà Tú chưa một lần chùn bước mà chỉ gật đầu nhẫn nhục cho qua và ba tiếng đối ứng thượng, hạ “âu đành phận”, “dám quản công” đã thể hiện được điều đó. Nguyên nhân dẫn đến sự cần cù, âm thầm đầy cam chịu của bà Tú tuy giản đơn nhưng cũng rất cao quý đó là vì mối nhân duyên thiên định và vì tương lai của đàn con nhỏ. Quả là một người mẹ, người vợ giàu đức hi sinh !Từ việc pha trộn lời thơ đan xen những thành ngữ đã đạt đến độ hoàn hảo về nội dung với các phép đảo ngữ cực tinh tế cùng các cấp số nhân rất thực và chuẩn xác, nhà thơ Tú Xương đã khắc họa thành công tấm chân dung một người vợ kết tinh đầy đủ đức hi sinh, sự nhẫn nại, sự tần tảo chịu thương chịu khó của người phụ nữ Việt Nam truyền thống trong hai câu luận. Qua đó, ông còn ngầm ý bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến người vợ thân thương của mình khi bà đã quên đi cái tôi mà gánh vác hết mọi trách nhiệm của một trụ cột trong gia đình. Thật vậy“Có con phải khổ vì con,Có chồng phải gánh giang sơn nhà chồng.”Kho tàng lục bát dân gianVì quá thương vợ, quá thương cho phận đời nữ nhi mà lại sắm vai trụ cột, Tú Xương tự trách bản thân mình và thông qua đó cũng nói lên tiếng chửi vừa đắng cay vừa phẫn nộ cho định kiến khắt khe “trọng nam khinh nữ” đã biến ông thành một kẻ vô tích sự “Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,Có chồng hờ hững cũng như không.”Mạch cảm xúc của thi phẩm dường như có sự chuyển biến đột ngột khi giờ đây, Tú Xương không còn “ẩn mình” sau những vần thơ để tán dương vợ nữa mà ông đã chịu xuất hiện để nói thay cho sự oán trách chồng, trách phận của bà Tú. “Cha mẹ thói đời” thật là một cách nói có phần thô cứng, xù xì nhưng lại rất phù hợp với phong cách thơ ca trào phúng của thi sĩ. Đó là sự giận đời, hận đời vì cái xã hội “Tây tàu lố lăng” lúc bấy giờ không cho phép ông san sẻ gánh nặng gia đình cùng vào đó, ít ai biết được rằng đằng sau tiếng chửi đầy dứt khoát ấy lại là một bi kịch của một con người chất chứa bao niềm phẫn uất, đau xót và tê tái“Có chồng hờ hững cũng như không.”Tú Xương chửi “đời” nhưng cũng “tự chửi” mình, “tự chửi” cái thói sĩ diện của một đấng nam nhi đang trên đường công danh, thói gia trưởng chỉ biết ngồi than vãn sự đời, mà không biết được mọi người xung quanh đang khổ cực vì mình. Tú Xương coi mình như kẻ vô tâm, “ăn ở bạc” với vợ con, luôn luôn “hờ hững” trong trách nhiệm và vai trò của một kẻ làm cha, làm chồng. Thật là “có chồng hờ hững cũng như không”! Thế nhưng nếu nhìn nhận lại sự việc một cách lạc quan thì Tú Xương không hề đáng trách mà lại rất đáng thương bởi suy cho cùng, chính xã hội lem luốc kia đã đẩy ông, một tài năng xuất chúng vào bước đường cùng khiến cho người vợ vốn thuộc dòng dõi cao quý phải chịu khổ. Thật đau đớn !“Con gái nhà dòng lấy chồng kẻ chợTiếng có miếng không, gặp chăng hay chớ”Văn tế sống vợ – Trần Tế XươngHai câu thơ khép lại tác phẩm là lời tự rủa mát mình của Tú Xương nhưng lại mang đậm ý nghĩa lên án xã hội sâu sắc góp phần khẳng định tình cảm của ông đối với bà Tú là vô bờ bến. Người chồng ấy tuy “ăn lương vợ” nhưng không hề “ở bạc”, “hờ hững” mà rất chu đáo, luôn dõi theo từng bước đi của bà trên đường đời và đặc biệt là luôn bày tỏ lòng biết ơn của mình đối với vợ. Thi phẩm kết thúc thật bất ngờ vừa thấm đượm cái bi, cái bất hạnh trong niềm riêng của tác giả, lại vừa dí dỏm, hài tóm lại, sau khi đi sâu phân tích bài thơ Thương vợ ta thấy đây là một thi phẩm mang đậm tính nhân văn sâu sắc. Với chất thơ bình dị mà trữ tình pha chút trào phúng, Tú Xương đã không những khắc họa nên một bức chân dung tuyệt đẹp về người vợ tảo tần, chịu thương chịu khó của mình mà còn thể hiện vẻ đẹp trong nhân cách của bản thân và hình ảnh bà Tú cần mẫn, đầy lo toan đó chính là hình ảnh đẹp đẽ nhất của người phụ nữ Việt Nam lúc bấy giờ vừa mộc mạc, chất phác, vừa cứng rắn, mạnh tích Thương vợ ngắn nhất bài số 4Thương vợ là lời nhắc nhở nhẹ nhàng dành cho những người chồng, người cha còn bạc với vợTrong xã hội phong kiến, người phụ nữ thường không được quan tâm nhiều. Một người phụ nữ phải chịu nhiều “gông xiềng” đeo trên vai. Nào là “Xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”. Nào là “tam tòng, tứ đức”,... Dường như người phụ nữ luôn xuất hiện phía sau người chồng, người con của mình. Họ không có được sự tự do trong cuộc sống và thường là người gánh chịu nhiều nỗi đau về tinh thần do tư tưởng trọng nam khinh nữ của Nho giáo. Vậy nên trong suốt chiều dài lịch sử, những thi nhân thường không đưa hình ảnh người vợ vào trong thơ ca của mình, mà thay vào đó là “mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông”. Bởi thế, Trần Tế Xương đã được người đời nhớ đến khi trong thơ ông, hình ảnh một người vợ lam lũ, vất vả đã được khắc họa một cách đầy đủ với thái độ trân trọng và yêu thương. Đó thực sự là một nét chấm phá đặc biệt của văn học thời kỳ phong kiến. Bài thơ “Thương vợ” của ông được xem như một trong những tác phẩm “khác lạ” giữa nền thi bài thơ này khác lạ bởi thông thường các thi sĩ chỉ làm thơ về người bạn đời của mình khi họ đã mất đi. Còn với Tú Xương, ông đã viết về người vợ của mình một cách chân thực, sống động và đầy lòng yêu thương ngay khi vợ ông còn sống. Khác lạ còn bởi trong xã hội phong kiến, người đàn ông là chủ gia đình, mọi quyết định đều do họ. Và hiếm ai chấp nhận một sự thật rằng vợ chính là người nuôi sống cả một gia đình. Ấy nhưng với Tú Xương, đó là một điều hiển nhiên, bởi ông còn bận học hành, thi cử để có chút công danh. Và không ai khác ngoài người vợ chính là nguồn sống cho cả gia đình. Điều đó được khẳng định ở ngay câu đầu tiên của bài thơQuanh năm buôn bán ở mom sôngNuôi đủ năm con với một chồngSự vất vả, cực nhọc đã được thể hiện một cách rõ ràng. Một mình người vợ mà phải “cõng” tới năm người con và một đức ông chồng. Chữ “mom” ở đây rất có giá trị. Mom là một mô đất nhô ra bên bờ sông, nó nhỏ bé và gợi lên chút gì đó chênh vênh, không bền vững. Đối lập với đó là năm người con và người chồng. Một sự đối sánh có tính chất không cân đối đã nói lên muôn vàn vất vả lo âu của người vợ cho gia đình của mình. Làm sao để có thể kiếm sống để chu đáo cho một gia đình với những đứa con phụ nữ trong thời đại phong kiến thường được ví như những “hạt mưa sa”, “giếng giữa đàng”, ý nói về sự bấp bênh của số phận, may mắn thì được vào gia đình tốt, được yêu thương còn không thì gặp muôn vàn đắng cay, khổ cực mà không biết kêu ai. Ở trong những câu tiếp theo, dường như Tú Xương đã cảm thán thay cho người vợ đáng thương của lội thân cò khi quãng vắng,Eo sèo mặt nước buổi đò đôngHình ảnh người vợ đã được ông ví như cánh cò nơi dòng nước, nhỏ bé, cô đơn. “Thân cò” là một sự so sánh vô cùng hợp lí và thú vị dành cho người vợ. Động từ “lặn lội” đã phác họa rõ nét hơn tình cảnh của người vợ, người mẹ. Có lẽ đọc đến đây ta cũng xót thương cho những người phụ nữ thời xưa. Hình ảnh người vợ Tú Xương cũng là sự khái quát cho những người phụ nữ Việt Nam thời kỳ phong kiến, phải lam lũ, vất vả một nắng hai sương lo cho gia đình, nhưng lại không được công nhận. Và qua những vần thơ, dường như Tú Xương đang tạo nên một bước chuyển mới trong nhận thức của các đấng nam nhi, cần phải coi trọng người phụ nữ của mình nhiều hơn duyên, hai nợ, âu đành phận,Năm nắng, mười mưa, dám quản côngViệc sử dụng cặp từ “một duyên”, “hai nợ” cho thấy Tú Xương không chỉ đồng cảm với sự vất vả của vợ, mà còn nhận thấy giữa hai vợ chồng có sự gắn bó từ kiếp trước. Có duyên mới tới được với nhau và đến được với nhau rồi đó lại là một điều không thể tách rời, bởi đó là “nợ”. Có lẽ ông cho rằng mình đã nợ vợ một món nợ không thể trả. Bởi thế cho nên duyên phận đã gắn bó ông với vợ. Nhưng có một sự “nói hộ” của ông ở đây. Dường như đây là lời của Tú Xương nhưng cũng chính là tâm sự của người vợ. Bởi ở câu thơ sau Năm nắng, mười mưa, dám quản công, cho thấy dẫu có vất vả, nhọc nhằn, người vợ cũng không dám kể lể công tích của mình, xem như đó là việc mình phải làm cho gia đình. Đó chính là sự vị tha, bao dung và nhẫn nhục của người phụ nữ Việt cam chịu của người vợ đã khiến cho Tú Xương không đành lòng. Nhưng người vợ không bao giờ nói ra với ông những nỗi vất vả, khó khăn ấy. Và chính ông đã là người nói ra giúp vợ mình. Một tiếng thơ cũng là tiếng thở than, trách cứ, dằn vặt của người chồng, là tiếng trách mắng nhẹ nhàng của người vợ dành cho người chồngCha mẹ thói đời ăn ở bạcCó chồng hờ hững cũng như không>>> Tham khảo thêm top 3 bài phân tích hình ảnh ông Tú trong bài thơ Thương vợ hay nhấtHai câu thơ khép lại tác phẩm là lời tự rủa mát mình của Tú Xương nhưng lại mang đậm ý nghĩa lên án xã hội sâu sắc góp phần khẳng định tình cảm của ông đối với bà Tú là vô bờ bến. Người chồng ấy tuy “ăn lương vợ” nhưng không hề “ở bạc”, “hờ hững” mà rất chu đáo, luôn dõi theo từng bước đi của bà trên đường đời và đặc biệt là luôn bày tỏ lòng biết ơn của mình đối với vợ. Thi phẩm kết thúc thật bất ngờ vừa thấm đượm cái bi, cái bất hạnh trong niềm riêng của tác giả, lại vừa dí dỏm, hài chất thơ bình dị, dễ đọc, dễ nhớ và đậm chất nhân văn Tú Xương đã khắc họa nên hình ảnh người vợ chịu thương chịu khó của mình trong mối tương quan với chồng, con. Đó cũng là lời nhắc nhở nhẹ nhàng mà ông dành cho những người chồng, người cha còn “bạc” với người vợ đầu gối tay ấp của mình bằng chất liệu trào phúng đặc đồ tư duy phân tích Thương vợ>>> Chi tiết xem tại Sơ đồ tư duy Thương vợ - Tú Xương theo các dạng đề phân tíchKiến thức mở rộngKhái quát hoàn cảnh ra đời Thương vợ- Bài thơ được làm vào khoảng 1896 - 1897, lúc nhà thơ 26-27 tuổi. Khi đó gia đình nhà Tú Xương trở nên túng bấn phải trông vào sự tần tảo của bà Tú. Cảm thông với vợ, Tú Xương đã làm cả một chùm thơ tặng vợ như Văn tế sống vợ, Tết dán câu đối,… Bài thơ Thương vợ là một trong những bài thơ Qua bài thơ, Trần Tế Xương bày tỏ sự tri ân, lòng trân trọng cũng như tình yêu thương và thái độ ăn năn của ông dành cho sự vất vả, hi sinh của số nhận định về bài thơ Thương vợ1. "Thương vợ là sự ngợi ca đức hi sinh của người phụ nữ và sự thấu hiểu của người chồng"2. “Trong đó con người nhà thơ của Tú Xương cũng hiện lên rất rõ, từ dáng vẻ đến tâm hồn, từ cá tính đến tâm sự, cả nỗi đau đến vẻ đẹp, vừa rất riêng, vừa tiêu biểu cho cả một lớp người, một loại tâm trạng...”3. “…Có khi tôi đã thấy giật mình cho Tú Xương, khi tôi giả tỉ thơ Tú Xương không có cái khía cạnh trữ tình, cái hơi lãng mạn của nó, mà lại chỉ rặt những “Cống hỉ - mét xì - Thôi thôi lạy mợ xanh căng lạy…”. Thật tôi thấy chối tai đấy. Ở ai thế nào tôi không hay, nhưng ở tôi, khi mà Tú Xương cứ hiện thực chỉ có như vậy thôi, cái gốc hiện thực ấy mà không có cái ngọn trữ tình, cái tán lãng mạn ấy, thì Tú Xương cũng tắt gió trong tôi từ lâu rồi và đã bay ra khỏi tôi lúc nào không biết nên ai muốn nói gì đến Tú Xương thì cứ nói ra, tôi đều coi trọng … nhưng tôi vẫn cho rằng thơ Tú Xương đi bằng cả hai chân hiện thực và trữ tình, mà cái chân hiện thực ở người Tú Xương chỉ là một cẳng chân trái. Tú Xương lấy cái chân phải trữ tình mà khiến cái chân trái tả thực. Chủ đạo cho đà thơ là ở chân phải và Tú Xương đã băng được mình thơ tới chúng ta bằng nước bước lãng mạn trữ tình.”Nguyễn Tuân4. “Ông Nghè ông Thám vô mây khóiĐứng lại văn chương một tú tài.”Xuân Diệu5. “Với tình cảm thương yêu, quý trọng, tác giả đã ghi lại một cách xúc động, chân thực hình ảnh người vợ tần tảo, giàu đức hi sinh. Thương vợ là bài thơ tiêu biểu cho thơ trữ tình của Trần Tế Xương cảm xúc chân thành, lời thơ giản dị mà sâu sắc.”6. "Bài thơ Thương vợ cho ta thấy cái tài, cái tình nhà thơ Trần Tế Xương".7. "Thương vợ là bài thơ tâm sự mang nỗi niềm thế sự của Tú Xương".8. Tản Đà khi còn sống "trong những thi sĩ tiền bối, phục nhất Tú Xương" Xuân Diệu kể vậy. Tản Đà tự nhận trong đời thơ của mình mới địch nổi Tú Xương một lần thôi bằng chữ "vèo" trong bài thơ Cảm thu, Tiễn thu của ông Vèo trông lá rụng đầy sân. Nguyễn Công Hoan cũng kể Nguyễn Tuân biểu dương Tú Xương là một người thơ, một nhà thơ vốn nhiều công đức trong cuộc trường kỳ xây dựng tiếng nói văn học của dân tộc Việt cấu tình - cảnh trong Thương vợ- Phần một bốn câu thơ đầu nêu sự việc khách quan, có giá trị như cảnh trong các bài thơ khác.+ Hai câu thơ đầu cho biết bà Tú buôn bán để nuôi cá gia đình, từ năm đứa con đến một người chồng.+ Hai câu 3 - 4 khắc họa hai hình ảnh gây ấn tượng nhất về bà Tú thân cò và đò đông - những hình tượng nghệ thuật của văn học dân gian truyền thống. -> Bà Tú lặn lội trên quãng đường vắng vẻ như thân cò và trải qua những nguy hiểm trên con đò đông Phần hai bốn câu thơ sau là những suy nghĩ, cảm xúc của tác giả.+ Hai câu 5 - 6 là sự ghi nhận đầy xúc động mà kín đáo về đức hi sinh của người vợ âm thầm cam chịu, chấp nhận vất vả, khó khăn không hề kêu than.+ Hai câu 7 - 8 chuyển đối tượng bình luận, phẫn nộ nhằm vào thói đời bạc bẽo, những ông chồng không làm được gì để giảm gánh nặng cho người kết phân tích bài Thương vợDựa trên việc tham khảo gợi ý cách làm và một số bài văn mẫu hay phân tích bài thơ Thương vợ trên đây, hi vọng các em đã có thể hình dung và tự xây dựng cho mình một hệ thống dàn ý chi tiết hơn. Từ đó việc triển khai thành bài viết hoàn chỉnh sẽ rất dễ dàng, có thể vận dụng hợp lí những từ ngữ, ý tứ từ các bài văn mẫu đã tham khảo để bài văn thêm hay và hấp số đề liên hệ hayHình ảnh người phụ nữ xưa qua bài Tự tình và Thương vợCác đề văn về Thương vợ Tú Xương thường gặp trong đề thiTruy cập kho tài liệu Văn mẫu 11 để cập nhật thêm nhiều bài văn hay khác giúp bạn rèn luyện kỹ năng làm văn, chuẩn bị tốt cho các bài thi và kiểm tra môn Văn. Chúc các bạn học tốt ! Thích Dàn ý Phân tích bài “Thương Vợ’ Tác giả Mộc Nghi Thể loại Nguồn Mộc Nghi Rating [K] Mọi độ tuổi đều đọc được Tình trạng Đã hoàn thành Lượt xem Số từ 654 Bình luận 1 Bình luận Facebook Lượt thích 4 Đào Thảo Phương Phạm Bình An Mộc Nghi Tinh Linh Tóc Đỏ Mở bài Đôi nét về tác giả Trần Tế Xương một tác giả mang tư tưởng li tâm Nho giáo, tuy cuộc đời nhiều ngắn ngủi. Thương vợ là một trong những bài thơ hay và cảm động nhất của Tú Xương viết về bà Tú. Thân bài Hai câu đề. Hoàn cảnh bà Tú mang gánh nặng gia đình, quanh năm lăn lội “mom sông”. + Thời gian “quanh năm” là việc liên tục, không trừ ngày nào, hết năm này qua năm khác. + Địa điểm “mom sông” phần đất nhô ra phía lòng sông không ổn định. => Công việc và hoàn cảnh làm ăn vất vả, ngược xuôi, không vững vàng, ổn định. Lí do + “Nuôi” chăm sóc hoàn toàn => Bản thân việc nuôi con là người bình thường, nhưng ngoài việc nuôi con người phụ nữ còn nuôi chồng -> hoàn cảnh éo le, ngang trái. + Cách dùng số đếm độc đáo “một chồng” bằng cả “năm con”, ông Tú nhận mình cũng là đứa con đặc biệt. Kết hợp với cách ngắt nhịp 4/3 thể hiện nỗi cực nhọc của vợ. => Bà Tú là người đảm đang, chu đáo với chồng con. Hai câu thực. “Lặn lội thân cò khi quãng vắng” có ý từ ca dao “con cò lặn lội bờ sông” nhưng sáng tạo hơn nhiều cách đảo từ lăn lội lên đầu hay thay thế con cò bằng thân cò + “Lặn lội” sự lam lũ, cực nhọc, nỗi gian truân, lo lắng. + Hình ảnh “thân cò” gợi nỗi nhớ vất vả, đơn chiếc khi làm ăn -> gợi tả nỗi đau thân phận và mang tính khái quát. + “Khi quãng vắng” thời gian, không gian heo hút rợn ngợp, chứa đầy những nguy hiểm lo âu. => Sự vất vả gian truân của bà Tú càng được nhấn mạnh thông qua nghệ thuật ẩn dụ. “Eo sèo…buổi đò đông” gợi cảnh chen lấn, xô đẩy, giành giật ẩn chứa sự bất trắc. + “Buổi đò đông” Sự chen lấn, xô đẩy trong hoàn cảnh đông đúc cũng chứa đầy những sự nguy hiểm, lo âu. Nghệ thuật đảo ngữ, phép đối, hoán dụ, ẩn dụ, sáng tạo từ hình ảnh dân gian nhấn mạnh sự lao động khổ cực của bà Tú. => Thực cảnh mưu sinh của bà Tú không gian, thời gian rợp ngợp, nguy hiểm đồng thời thể hiện lòng xót thương da diết của ông Tú. Hai câu luận. “Một duyên hai nợ” ý thức được việc lấy chồng là duyên nợ nên “âu đành phận”, Tú Xương cũng tự ý thức được mình là “nợ” mà bà Tú phải gánh chịu. “Nắng mưa” chỉ vất vả. “Năm, mười” số từ phiếm chỉ số nhiều. “Dám quản công” đức hy sinh thầm lặng cao quý vì chồng con, ở bà hội tụ cả sự tần tào, đảm đang, nhẫn nại. => Câu thơ vận dụng sáng tạo thành ngữ, sử dụng từ phiếm chỉ vừa nói lên sự vất vả gian lao vừa nói lên đức tính chịu thương chịu khó, hết lòng vì chồng con của bà Tú. Hai câu kết. Bất mãn trước hiện thực, Tú Xương đã vì vợ mà lên tiếng chửi + “Cha mẹ thói đời ăn ở bạc” tố cáo hiện thực, xã hội quá bất công với người phụ nữ, quá bó buộc họ để những người phụ nữ phải chịu nhiều đắng cay vất vả. Tự ý thức + “Có chồng hờ hững” Tú Xương ý thức sự hờ hững của mình cũng là một biểu hiện của thói đời. Nhận mình có khiếm khuyết, phải ăn bám vợ, để vợ phải nuôi con và chồng. Từ tấm lòng thương vợ đến thái độ với xã hội, Tú Xương cũng chửi cả thói đời đen bạc. III. Kết bài Khăng định lại những nét đặc sắc tiêu biểu về nghệ thuật làm nên thành công nội dung của tác phẩm. Liên hệ, bày tỏ quan điểm, suy nghĩ của bạn thân về người phụ nữ trong xã hội hiện nay. Thương Vợ là bài thơ nổi tiếng của nhà thơ Tú Xương, bài thơ được đánh giá cao trong hơn 100 tác phẩm đồ sộ của ông. Với sự kết hợp hài hòa giữa ngôn từ dân gian và ngôn ngữ bác học, bài thơ khắc họa hình tương nhân vật một cách đặc sắc. Bài viết dưới đây, VerbaLearn giúp độc giả tìm hiểu dàn bài phân tích cũng như những bài văn mẫu chọn lọc cho đề bài phân tích bài thơ Thương Vợ. Từ đó giúp các bạn học sinh có thêm thông tin và dữ liệu cần thiết theo chương trình văn học lớp bài phân tích Thương VợPhân tích bài thơ Thương Vợ – Mẫu 1Phân tích bài thơ Thương Vợ – Mẫu 2Mở bàiGiới thiệu bài thơ Thương vợ của nhà thơ Tú bài1. Hai câu đề– Hoàn cảnh bà Tú mang gánh nặng gia đình, quanh năm lặn lội “mom sông”.+ Thời gian “quanh năm” nhấn mạnh tính liên tục của công việc, không trừ ngày nào, dù mưa hay nắng.+ Địa điểm “mom sông” phần đất nhô ra phía lòng sông không ổn định.+ Công việc và hoàn cảnh làm ăn vất vả, ngược xuôi, không vững vàng, ổn định.– Lí do+ “Nuôi đủ năm con với một chồng” một mình bà Tú phải nuôi cả gia đình, không thiếu cũng không dư.+ Câu thơ với những từ chỉ số lượng “năm con” đặt cạnh “một chồng” mang hàm nghĩa so sánh tương đương. “Năm con” là số nhiều, nhưng dù sao chúng chỉ cần bát cơm, manh áo. Nhưng lại còn thêm “một” ông chồng chi phí bằng cả năm đứa con kia.⇒ Tác giả cười nhẹ về sự vô dụng của mình, đồng thời tác giả cũng bày tỏ sự trân trọng đối với vợ mình – người phụ nữ đảm đang, tháo vát, chu đáo với chồng Hai câu thực– Lặn lội thân cò khi quãng vắng có ý từ ca dao “Con cò lặn lội bờ sông” nhưng sáng tạo hơn nhiều cách đảo từ lặn lội lên đầu hay thay thế con cò bằng thân cò+ Hình ảnh “thân cò” gợi nỗi vất vả, đơn chiếc khi làm ăn ⇒ gợi tả nỗi đau thân phận và mang tính khái quát.+ “khi quãng vắng” thời gian, không gian heo hút rợn ngợp, chứa đầy những nguy hiểm lo âu.→ Sự vất vả gian truân của bà Tú càng được nhấn mạnh thông qua nghệ thuật ẩn dụ.– “Eo sèo… buổi đò đông” gợi cảnh chen lấn, xô đẩy, giành giật ẩn chứa sự bất trắc– Nghệ thuật đảo ngữ, phép đối, hoán dụ, ẩn dụ, sáng tạo từ hình ảnh dân gian nhấn mạnh sự lao động khổ cực của bà Tú.⇒ Hai câu thực đối lập nhau về từ ngữ nhưng lại cùng nhau làm nổi bật lên ý nghĩa của sự vất vả, gian truân của bà Hai câu luận– “Một duyên hai nợ” ý thức được việc lấy chồng là duyên nợ nên “âu đành phận”, Tú Xương cũng tự ý thức được mình là “nợ” mà bà Tú phải gánh chịu.– “nắng mưa” chỉ vất vả– “năm”, “mười” số từ phiếm chỉ số nhiều– “dám quản công” Đức hi sinh thầm lặng cao quý vì chồng con, ở bà hội tụ cả sự tần tảo, đảm đang, nhẫn nại.⇒ Câu thơ vận dụng sáng tạo thành ngữ, sử dụng từ phiếm chỉ vừa nói lên sự vất vả gian lao vừa nói lên đức tính chịu thương chịu khó, hết lòng vì chồng vì con của bà Hai câu kết– Bất mãn trước hiện thực, Tú Xương đã vì vợ mà lên tiếng chửi “Cha mẹ thói đời ăn ở bạc” tố cáo hiện thực, xã hội quá bất công với người phụ nữ, quá bó buộc họ để những người phụ nữ phải chịu nhiều cay đắng vất vả.– Tự ý thức “Có chồng hờ hững” Tú Xương ý thức sự hờ hững của mình cũng là một biểu hiện của thói đời.⇒ Từ tấm lòng thương vợ đến thái độ đối với xã hội, Tú Xương ngụ ý lên án xã hội một cách nhẹ nhàng mà thâm bài– Khái quát về giá trị của tác phẩm.– Liên hệ, bày tỏ quan điểm, suy nghĩ của bản thân về người phụ nữ trong xã hội hôm tích bài thơ Thương Vợ – Mẫu 1Lễ giáo phong kiến với quan niệm “xuất giá tòng phu, phụ tử tòng tử” không tôn trọng người phụ nữ. Ngoài ra nó còn không đánh giá cao vai trò của cá nhân. Vì thế gần như không có nhà thơ, nhà văn nào thời phong kiến làm thơ về vợ mình. Bạn có biết bài thơ nào mà ở đó tác giả không những đề cập đến người vợ mà còn đánh giá cao họ trong thời thực dân phong kiến không? Đó là bài thơ “Thương vợ” của nhà thơ Tú Xương – môt trong số những bài thơ hay và cảm động nhất của nhà thơ viết về bà Tú.“Quanh năm buôn bán ở mom sôngNuôi đủ năm con với một chồngLặn lội thân cò khi quãng vắngEo sèo mặt nước buổi đò đôngMột duyên hai nợ âu đành phậnNăm nắng mười mưa dám quản côngCha mẹ thói đời ăn ở bạcCó chồng hờ hững cũng như không”Cảm nhận ban đầu của người đọc đối với bài thơ là sự thương yêu, trân trọng của Tú Xương đối với vợ mình – người phụ nữ vất vả, tảo tần để chăm lo cho chồng con, gồng gánh gia đình“Quanh năm buôn bán ở mom sông”Câu đề của bài thơ nhằm khắc họa dáng vẻ tần tảo, tất bật ngược xuôi của bà Tú. Thời gian “quanh năm” nhằm nhấn mạnh tính liên tục của công việc, không trừ ngày nào dù mưa hay nắng, nhấn mạnh sự tần tảo của bà. Nhưng bà Tú làm việc ở đâu, một cửa hiệu nhỏ hay một cửa hàng sang trọng? Không đâu, chỗ mà bà “kinh doanh” là ở “mom sông”, phần đất nhô ra phía lòng sông, một địa điểm có phần cheo leo, nguy hiểm. Qua hai câu mở đầu, tác giả đã giúp ta hiểu được phần nào khó khăn, khắc nghiệt về cả thời gian lẫn không gian trong công việc của bà. Độc giả khi đọc đến đây sẽ nghĩ bà Tú làm việc gì lớn lao lắm. Không, bà Tú làm việc cực nhọc quanh năm chỉ đểNuôi đủ năm con với một chồng”!Ta như cảm nhận được tiếng cười nhẹ của tác giả ở câu thơ này. Đây cũng là phong cách trào phúng nhẹ nhàng mà sâu lắng của nhà thơ Tú Xương. Câu thơ với những từ chỉ số lượng “năm con” đặt cạnh “một chồng” mang hàm nghĩa so sánh tương đương. “Năm con” là số nhiều, nhưng dù sao chúng chỉ cần bát cơm, manh áo. Nhưng lại còn thêm “một” ông chồng chi phí bằng cả năm đứa con kia. Đây cũng là cách mà tác giả cười nhẹ về sự vô dụng của mình, đồng thời tác giả cũng bày tỏ sự trân trọng đối với vợ mình – người phụ nữ đảm đang, tháo vát, chu đáo với chồng đặc sắc nhất của bài thơ nằm ở hai câu thực. Hai câu thơ với nhiều biện pháp tu từ nhằm gợi tả cụ thể hơn cuộc sống tảo tần, buôn bán ngược xuôi của bà Tú“Lặn lội thân cò khi quãng vắngEo sèo mặt nước buổi đò đông”“Lặn lội thân cò” là thành ngữ được tác giả mượn ý từ ca dao “Con cò lặn lội bờ sông” nhưng sáng tạo hơn nhiều. Tác giả đã dùng phép tu từ đảo ngữ – cách đảo từ lặn lội lên đầu hay thay thế con cò bằng thân cò nhằm nhấn mạnh nỗi vất vả, gian truân của bà Tú. Con cò là một ẩn dụ để chỉ người phụ nữ thân cô, thế cô trong một không gian rộng lớn đầy nguy hiểm nhưng cộng với “khi quãng vắng”, tác giả đã nói lên được cả không gian, thời gian heo hút, rợn ngợp chứa đầy lo âu, nguy hiểm của công việc đầy vất vả, đơn chiếc của bà Tú. Nó gợi lên một nỗi đau về thân phận những con người nghèo khổ trong xã hội đương thời. Nhưng nỗi vất vả mưu sinh không dừng lại ở lúc vắng lặng mà còn ở lúc đông người“Eo sèo mặt nước buổi đò đông”Tác giả thật tài tình chỉ với một câu thơ bảy chữ đã nói lên được cảnh chen lấn, xô đẩy, giành giật ẩn chứa sự bất trắc, nguy hiểm, lo hoàn cảnh chợ đời đông đúc. “Buổi đò đông” đâu phải ít lo âu, nguy hiểm hơn “khi quãng vắng”? Hai câu thực đối lập nhau về từ ngữ nhưng lại cùng nhau làm nổi bật lên ý nghĩa của sự vất vả, gian truân của bà Tú. Với hai câu thơ này người đọc cũng cảm nhận được tấm lòng xót thương, yêu quý và trân trọng của nhà thơ dành cho vợ mình. Dưới ngòi bút của Tú Xương, bà Tú không những hiện lên là người phụ nữ đảm đang, tháo vát, chu đáo với chồng con, mà còn là người giàu đức hi sinh“Một duyên hai nợ âu đành phậnNăm nắng mười mưa dám quản công”Dù “duyên” thì một mà “nợ” lại hai nhưng bà Tú không một lời phàn nàn mà lặng lẽ, chấp nhận hy sinh cho gia đình, chồng con. “Năm nắng mười mưa” được tác giả vận dụng sáng tạo, sử dụng thành ngữ mưa nắng nói lên sự vất vả, năm mười là số lượng phiếm chỉ để nói số nhiều để biểu thị sự vô cùng vất vả gian truân của bà Tú, nhưng bà vẫn “dám quản công” – chịu thương chịu khó, hết lòng vì chồng vì con“Năm nắng mười mưa dám quản công”Mặc dù toàn bộ bài thơ là cảnh tả thực người vợ, là sự trân trọng, thương yêu của tác giả đối với vợ mình, nhưng ta vẫn cảm thấy đâu đó bóng dáng của ông Tú – tác giả. Ông không xuất hiện trực tiếp nhưng thông qua những câu thơ đầy yêu thương, trân trọng dành cho vợ và giọng điệu có phần trào phúng khi nói về mình, ta thấy được tình cảm sâu đậm của ông. Vì thương vợ, thương cho thân phận đời nữ nhi mà lại sắm vai trụ cột trong gia đình, Tú Xương vừa tự trách bản thân mình là người chồng “hờ hững” vừa như mượn chuyện đời mình để lên án cho những định kiến khắt khe“Cha mẹ thói đời ăn ở bạcCó chồng hờ hững cũng như không!”Bài thơ có sự chuyển biến đột ngột, tác giả không còn ẩn mình sau những dòng thơ để tả thực về người vợ mà đã xuất hiện để nói thay, để trách ông chồng, để trách phận mình của bà Tú. “Cha mẹ thói đời ăn ở bạc” là một tiếng chửi, chửi cái “thói đời” nhưng cũng là sự chửi mình, tự chửi một đống nam nhi đang trên đường công danh mà không giúp được vợ lại thành kẻ ăn bám. Nhưng nếu suy nghĩ tận cùng của sự việc, người đọc sẽ hiểu tại sao một người trí thức thời thực dân phong kiến lại không thể làm được một nhiệm vụ nhỏ trong hai nhiệm vụ “tề gia, bình thiên hạ” của nam giới. Trả lời câu hỏi này là ta đã đồng cảm được với ngụ ý của tác giả muốn lên án xã hội một cách nhẹ nhàng mà thâm phẩm “thương vợ” là một bản tự kiểm điểm bản thân được viết bằng thơ. Nhưng không đơn giản như thế, thông qua việc sử dụng từ ngữ giản dị, giàu sức biểu cảm và cách vận dụng sáng tạo những chất liệu văn học dân gian, bài thơ đã thể hiện tình cảm thương yêu, quý trọng của ông Tú dành cho bà Tú , qua đó ca ngợi những phẩm chất cao đẹp như sự tảo tần, chịu thương, chịu khó và đức hy sinh của phụ nữ Việt Nam. Tác giả cũng thông qua sự những lời thơ tự trào phúng về sự bất lực của bản thân để lên án xã hội phong kiến thực dân thời bấy giờ chà đạp lên số phận của người phụ nữ. Ngày nay, phụ nữ nước ta hầu như đã được giải phóng, đã có một vị trí xứng đáng, đó là thành quả của công cuộc giải phóng dân tộc của cha ông ta. Lớp trẻ chúng ta thời nay nên trân trọng với những gì chúng ta có và nên cố gắng góp phần bé nhỏ của mình cho công cuộc kiến thiết đất nước càng giàu đẹp hơn, nhân dân ta càng hạnh phúc tích bài thơ Thương Vợ – Mẫu 2Có thể nói người phụ nữ trong xã hội hiện đại có vai trò và vị thế lớn trong cuộc sống, họ có được cuộc sống hạnh phúc và bình đẳng. Tuy nhiên, những người phụ nữ trong xã hội phong kiến thì không được may mắn như vậy họ phải chịu nhiều đắng cay, bất hạnh. Trong văn học Việt Nam có rất nhiều tác phẩm nói về số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến và bài thơ “Thương vợ” của Trần Tế Xương là một trong những tác phẩm phẩm nói về những nỗi cực khổ của người phụ nữ, điều làm cho nó càng trở nên đặc biệt chính là tác phẩm được viết khi người vợ tảo tần của ông vẫn đang còn Tế Xương 1870-1907 ông thường được gọi với cái tên Tú Xương. Tuy với cuộc đời ngắn ngủi chỉ sống được khoảng 37 tuổi nhưng thơ văn của ông khá đồ sộ với khoảng trên 100 bài, sự nghiệp thơ văn của ông dường như đã trở thành bất tử. Với tình yêu thương của một người chồng dành cho vợ ông đã sáng tác bài thơ để nói lên những cực khổ, hy sinh, của vợ mình dành cho chồng con. Với lời thơ giản dị mà sâu sắc Tú Xương đã thành công trong việc khắc hoạ cho người đọc cảm nhận được những khổ cực mà không chỉ có vợ ông mà là tất cả phụ nữ trong xã hội phong kiến phải chịu đựng. Ông tỏ thái độ tức giận với số phận đã được định đoạt từ trước của họ, tức giận với phong tục trong xã hội phong kiến đã đè lên đôi vai hao gầy của thể nói nhan đề “Thương Vợ” là cái tên hết sức mới lạ trong thơ văn trung đại, bởi với quan niệm trọng nam khinh nữ thì những bài thơ ca ngợi về người vợ là vô cùng hiếm hoi, với nhan đề ngắn gọn dễ hiểu, chỉ cần đọc qua nhan đề ta cũng có thể phần nào hiểu được nội dung của bài thơ muốn nói đến sự thương yêu của Tú Xương dành cho người vợ của sáu câu thơ đầu hiện ra một hình ảnh người vợ dầm mưa dãi nắng lo lắng cho chồng con mà không than trách chỉ biết ngậm ngùi chịu đựng và xem đó như một quy luật tự nhiên của người phụ nữ“Quanh năm buôn bán ở mom sông,Nuôi đủ năm con với một chồng.”“Quanh năm buôn bán” xuất hiện ở đầu bài thơ là mức độ buôn bán thường xuyên của bà Tú, từ tháng này qua tháng khác và từ năm này qua năm khác, không ngại nắng mưa bà đều đặn buôn bán ở “mom sông”cái nơi dường như quá quen thuộc với cuộc đời của người đàn bà ấy, chính là mảnh đất chông chênh nhô ra ở bên bờ sông đã giúp bà “nuôi đủ năm con với một chồng” tuy cuộc sống của bà có vất vả nhưng bà luôn chăm lo thương yêu chồng con hết mực không để cho ai phải thiếu thốn thứ gì. Nuôi con đã cực khổ nay lại phải còn gánh vác thêm việc nuôi chồng, đã khổ nay lại còn khổ hơn, miệng ăn của cả nhà đều trông đợi vào một mình bà, bà Tú như là trụ cột của gia đình. Tú Xương tuy không được may mắn trong con đường công danh sự nghiệp, nhưng ông cũng thật may mắn khi có người vợ biết chăm lo cho gia đình và không bao giờ than phiền dù cho cuộc sống có khiến cho bà mệt mỏi.“Lặn lội thân cò khi quãng vắng,Eo sèo mặt nước buổi đò đông.”Tác giả đã sử láy “Lặn lội” để nhấn mạnh vợ của ông chính là người phụ nữ mạnh mẽ thế đấy bà không ngại lam lũ khó khăn gian khổ. Ngoài ra, tác giả mượn hình ảnh con cò để nói đến người vợ, một người phụ nữ với thân hình gầy gò, nhỏ bé lặng lội kiếm ăn không ngại nơi vắng vẻ. Vậy, tại sao tác giả lại mượn hình ảnh con cò mà không phải là một con khác? Chính vì hình ảnh con cò là biểu tượng cho người nông dân, người phụ nữ Việt Nam và là biểu tượng của người mẹ vất vả kiếm sống nhưng rất giàu đức tính hy sinh. Câu thơ khiến cho chúng ta liên tưởng đến hình ảnh con cò vất vả lam lũ trong những câu ca dao xưa“Con cò mà đi ăn đêmĐậu phải cành mềm lộn cổ xuống aoÔng ơi ông vớt tôi naoTôi có lòng nào ông hãy xáo măngCó xáo thì xáo nước trongĐừng xáo nước đục đau lòng cò con”Hay“Con cò lặn lội bờ sôngGánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non.”“Cái cò đi đón cơn mưaTối tăm mù mịt ai đưa cò về…”Thế mới thấy được thân cò cực khổ biết nhường nào. Chính vì miếng cơm manh áo của chồng và các con người phụ nữ không màng đến những nguy hiểm đang rình rập nơi “quãng vắng” và ta không biết được rằng khi nào thì những thứ đáng sợ ấy sẽ xuất hiện. “Eo sèo” chính là những tiếng kì kèo, cãi vã chỉ để chắt chiu từng đồng qua những lần mua bán vào những buổi “đò đông” những buổi đò chen chúc tấp nập, thỉnh thoảng còn xuất hiện những cái xô đẩy, đó chính là cuộc sống mưu sinh vất vả của bà Tú chính là cái mà bà phải đối mặt hằng ngày. Chắc hẳn khi đọc đến hai câu thơ này ai cũng sẽ có những cảm xúc bổi hổi bồi hồi. Hai câu thơ như muốn nói lên những nguy hiểm khó khăn mà bà phải đối mặt, những giọt mồ hôi hoà với những giọt nước mắt.“Một duyên hai nợ âu đành phận,Năm nắng mười mưa dám quản công.”Mối duyên do trời định đã cho hai người được gặp nhau, cái nợ đã khiến cho bà Tú phải khổ cực, nhưng bà đành gạt nó qua một bên mà chịu đựng và xem đó là lẽ thường tình. Tới chính bản thân bà Tú là một người phụ nữ nhưng bà cũng nghĩ rằng đã theo chồng thì việc chịu gian khó, cực nhọc hầu hạ, nâng túi sửa khăn cho người chồng đã là điều đương nhiên, có mệt có khổ âu cũng là thường tình, không việc gì phải trăn trở. Duyên thì chỉ có một nhưng nợ thì lại có tới hai, khổ cực thì nhiều nhưng hạnh phúc thì được bao nhiêu, cuộc sống không có một tí nào hạnh phúc cả đời chỉ biết dãi nắng dầm mưa không dám nghỉ ngơi, không dám đình công một ngày nào, nhưng đổi lại thì bà được cái gì cơ chứ? Cuộc sống của người đàn bà tại sao lại khổ như vậy? Nếu là bà Tú có lẽ tôi sẽ ước rằng mình là một người con trai và kiếp sau không gặp lại những người đã khiến cho tôi đau buồn, cuộc sống chỉ có nước mắt nhiều hơn là nụ cười. Họ cũng là con người chứ có phải cổ máy đâu mà luôn phải chịu đựng những bất công của xã hội, sinh ra phận đàn bà thì đã sao? Đàn bà thì cũng là con người, họ cũng có quyền được hạnh phúc? Tại sao chỉ đàn ông mới có quyền được hạnh phúc? Không thể nói thành lời những uất ức mà bà Tú và những người phụ nữ trong xã hội phong kiến phải chịu được những gánh nặng, vất vả của bà Tú, biết rằng bà không bao giờ trách móc, nên ông đã thay người vợ của mình để chửi cái xã hội bạc bẽo này và ông cũng chửi cả bản thân mình vì đã không làm tròn trách nhiệm của một người chồng, người cha.“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,Có chồng hờ hững cũng như không”“Cha mẹ thói đời” câu thơ như gây ra một sự hiểu lầm cho người nghe, nhưng nếu suy nghĩ một cách kỹ lưỡng và tinh tế ta sẽ hiểu được rằng tác giả không phải nói đến cha mẹ của bà Tú cũng chẳng phải nói đến cha mẹ của ông Tú. Mà tác giả muốn thay vợ mình chửi cái thói đời trọng nam khinh nữ, những quan niệm cổ hủ khiến cho những người phụ nữ như bà không có được hạnh phúc. “Có chồng hờ hững” chửi sự vô tâm của bản thân, không giúp ích được gì, tự trách bản thân đã mải mê chạy theo con đường công danh, lí tưởng mà vô tình quên đi trách nhiệm của một người chồng, người trụ cột trong gia đình, để cho bà Tú phải bươn trải, lăn lộn quanh năm với cuộc sống, mọi gánh nặng dường như đè lên đôi vai hao gầy ấy. “Cũng như không” có chồng như ông thì bà Tú cũng chẳng sướng hơn, bởi vậy ông xem mình như người vô hình, vô tích sự không phụ giúp gì được cho câu kết là cả một nỗi niềm tâm sự và thế sự đầy buồn thương, là tiếng nói của một trí thức giàu nhân cách, nặng tình đời, thương vợ con, thương gia cảnh nghèo. Tú Xương thương vợ cũng chính là thương mình vậy nỗi đau thất thế của nhà thơ khi cảnh đời thay đổi! Có thể nói bài thơ vừa là muốn nói lên những khổ cực của vợ vừa là một bản kiểm điểm ông viết ra dành cho ta thường nói “Trong cái rủi có cái may” bà Tú tuy cực khổ thiếu thốn về vật chất, nhưng bà có được cái mà nhiều người phụ nữ trong xã hội phong kiến không có và đó cũng là thứ mà Hồ Xuân Hương ao ước có được trong bài thơ “Tự Tình” đó là tình yêu thương của người chồng đó chính là món quà tinh thần mà không phải người phụ nữ nào cũng có được. Nếu được ban cho một điều ước tôi sẽ ước cho những người phụ nữ như bà không còn khổ nữa, họ xứng đáng có được hạnh phúc hơn bao giờ hết. Phụ nữ là để yêu thơ “Thương vợ” được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú. Ngôn ngữ thơ bình dị như là tiếng nói đời thường nơi “mom sông” của những người buôn bán nhỏ, cách đây một thế kỷ. Các chi tiết nghệ thuật chọn lọc vừa cá thể bà Tú với “năm con, một chồng” vừa khái quát sâu sắc người phụ nữ ngày xưa. Hình tượng thơ hàm súc, gợi cảm thương vợ, thương mình, buồn về gia cảnh thêm nỗi đau đời. “Thương vợ’” là bài thơ trữ tình đặc sắc của Tú Xương nói về người vợ, người phụ nữ ngày xưa với bao đức tính tốt đẹp, hình ảnh bà Tú được nói đến trong bài thơ rất gần gũi với người mẹ, người chị trong mỗi gia đình Việt lại, bài thơ thương vợ mang lại một giá trị nhân văn vô cùng lớn cho người đọc, bài thơ. Chỉ với tám câu thơ tác giả đã thành công trong việc khắc hoạ bức chân dung tuyệt đẹp về hình ảnh người vợ, người mẹ với lời thơ đậm chất trữ tình và có pha chút trào trị viên website Với kinh nghiệm hơn 10 năm đi dạy và mong muốn tạo môi trường học tập miễn phí, tôi thành lập website này với mục đích chia sẽ kiến thức giáo dục đến học sinh các cấp tiểu học, THCS, THPT và Đại Học.

dàn ý phân tích bài thương vợ